Tam Giải 15. P2D4 - Phần phụ thêm VỀ NHƠN ĐỨC
PHẦN THỨ HAI
NHỮNG SỰ PHẢI XA LÁNH, LÀ TỘI CÙNG NHỮNG SỰ
PHẢI GIỮ, LÀ NHƠN ĐỨC
Phần
phụ thêm
VỀ NHƠN ĐỨC
*Hỏi. Lo bỏ tội cùng các tính nết xấu mà thôi
có đủ chăng?
Thưa. Chẳng đủ, lại phải lo mà giữ nhơn đức với
nữa, như lời Thánh kinh rằng: « Mầy phải xa « lánh sự dữ, cùng phải làm sự
lành. » Như kẻ muốn làm ruộng làm vườn, lo phát gai gốc, mần cỏ, cuốc lên, bừa
xuống, đập đất, lật cỗ trước đã, sau thì lo mà trồng trặc, gieo vãi, gặt hái, mới
trồng có lúa mà ăn. Cũng một lẽ ấy, kẻ muốn rỗi linh hồn, muốn đi đàng nhơn đức,
trước hết phải bỏ tội, đánh gốc, nhổ rễ các tính nết xấu, đoạn trồng cây, vãi mạ,
là tập làm việc lành phước đức, thì mới trồng có lúa mà ăn, là đặng hưởng phước
trên nước Thiên đàng.
Hỏi. Nhơn đức là di gì?
Thưa. Hiểu chung: nhơn đức là tính lành Đức
Chúa Trời ban xuống trong linh hồn ta, mà làm cho lòng trí ta nghiêng chia muốn
làm việc lành phước đức. Hiểu cách riêng hơn: nhơn đức là lòng hứng vui ái mộ
muốn kính mến Chúa cùng yêu người như mình vậy. Vốn kẻ sạch tội trọng, có ơn nghĩa
trong linh hồn, cũng là kẻ có lòng kính mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, và
yêu người như mình vậy. Song le có một sự ấy mà thôi, thì chưa đáng gọi là người
nhơn đức; phải có lòng hứng vui ái mộ thờ phượng Chúa nữa, thì mới gọi là kẻ
nhơn đức thật mà chớ. Lòng hứng vui là chóng vánh mà làm việc lành; ái là yêu
chuộng việc lành, cùng làm hết mọi sự cho sáng danh Chúa, nhứt là vì lòng kính
mến Đức Chúa Trời; mộ là ham hố, sốt sắng, siêng năng, cùng bền đỗ mà làm mọi
việc thờ phượng Chúa cho đến chết.
Hỏi. Mọi người có phải lo mà giữ nhơn đức
chăng?
Thưa. Phải, vì có lời Đức Chúa Giêsu dạy rằng:
«Bay phải nên người trọn lành, như Cha bay ở trên «trời là Đấng trọn lành.» Lại
khi phán xét chung, Đức Chúa Giêsu chẳng những nhắc lại tội lỗi kẻ dữ làm mà phạt
nó, mà lại nhứt là Chúa nhắc lại sự nó chẳng lo làm việc lành, chẳng có lòng
thương giúp kẻ lưng vơi khốn nạn, mà phạt nó nữa.
Hỏi. Mọi người có đi đặng nhơn đức được hết
chăng?
Thưa. Được hết, tùy theo đấng bậc mình. Dầu
trong đạo cũ, đạo mới, chẳng những có người nhơn đức trong mỗi bậc, lại cũng có
nhiều kẻ làm thánh nữa. Như ông thánh Abaraham, ông thánh Igiác, ông thánh
Giacóp, ông thánh Gióp, ông thánh Tobia, vua thánh Davít, bà thánh Sara, bà
thánh Giudít cùng nhiều bà thánh khác trong đạo cũ, là những người có đôi bạn,
có cửa nhà, có quyền cai trị người ta. Lại trong đạo mới cũng có nhiều đấng
thánh đủ các bậc, như ông thánh Giuse làm nghề thợ mộc; bà thánh Mónica trước
có chồng có con, sau thủ tiết trọn đời ở giữa thế gian; ông thánh Luy là vua nước
Phalangsa; ông thánh Sébastianô, ông thánh Mauricio làm quan giúp việc nhà nước,
ông thánh Rốc là kẻ làm nghề nông phu; ông thánh Giude Bénéditô La-b-re là người
ăn mày; bà thánh Dita là thể nữ ở mướn cho người ta. Lại trong nước Việt Nam Hội
thánh đã tặng lên bậc á thánh đặng 82 người nước ta, mà trong 82 người ấy có đủ
mọi bậc, có những kẻ làm thầy cả, những người dâng mình trong nhà Đức Chúa Trời,
có nhiều kẻ khác ở bậc bổn đạo thường: như ông Mátthêu Gẫm là cắt lái đi thương
mãi; Tóma Thiện là học trò các cha; Phaolô Bường làm quan đội; Simon Hòa là thầy
thuốc; Micae Mỹ làm lý trưởng, vân vân. Vậy đâu ai có chức phận nào, làm nghề
nghiệp gì, thì cũng đặng đi đàng nhơn đức, ở siêng năng kính thờ Đức Chúa Trời
trong đấng bậc mình thay thảy.
*Hỏi. Sự đi đàng nhơn đức có sinh nhiều ích lợi
lắm chăng?
Thưa. Sự đi đàng nhơn đức là một phương sinh lợi
lộc rất lớn, mà phần lợi lộc ấy hằng có bền đỗ với ta cho đến đời đời.
Ông thánh Phanxicô Salédiô muốn phân tỏ sự đi đàng
nhơn đức làm nhiều ích rất trọng cho linh hồn ta, thì người lấy nhiều ví dụ mà
cắt nghĩa sự ấy.
Như trái cây chưa chín thì nó chua chác, song
nếu có ngào nó với đường, thì nó mất chua, mà trở nên ngon ngọt: cũng một lẽ ấy,
sự nhơn đức là như đường thiêng liêng làm cho mọi sự cực khổ đắng cay chua xót
đời nầy ra giống vui mừng ngon ngọt. Nó an ủi kẻ khó khăn cho bớt sự lao phiền
rầu rĩ; nó làm cho kẻ giàu có đặng lòng khiêm nhượng, hạ mình xuống cùng ở rộng
rãi với kẻ khó khăn; nó cứu kẻ thua kiện bởi quan xét chẳng công bình, cho khỏi
cực lực trong lòng; nó làm cho thầy tu hành ần sĩ một mình đặng vui mừng, và kẻ
ở cùng nhau được giữ sự vắng vẻ bề trong. Sự nhơn đức chẳng những không làm
ngăn trở, không làm hư việc nào bậc nào, mà lại nó giúp người ta đặng giữ chín
chắn tử tế hơn mọi việc thuộc về đấng bậc mình. Nó làm cho dân sự càng ở thật
thà trung tín cùng vua quan mình; kẻ có vợ chồng càng đặng tính ngãi, hòa nhã
cùng thương yêu nhau, lại siêng năng vui mừng mà làm mọi việc trong cửa nhà cho
nên. Như con ong nút hoa khéo lắm vì nó chẳng có làm hư hoa, một còn tốt tươi
như trước, thì sự nhơn đức càng khéo hơn nữa, vì chẳng những nó chẳng làm hư việc
nào, mà lại nó làm cho các việc thay thảy càng nên xin tốt đẹp đẽ hơn trước bội
phần. Vậy nếu ta muốn đặng phước đời nầy và nhứt là đời sau, thì hãy gắng công
ra sức mà đi đàng nhơn đức cho nên.
Hỏi. Các nhơn đức chia ra làm mấy thứ?
Thưa. Chia ra làm nhiều thứ, song nhứt là có
hai thứ nầy: 1° nhơn đức Đức Chúa Trời; 2° nhơn đức căn bổn, hay là phong hóa —
Có ba nhơn đức gọi là nhơn đức Đức Chúa Trời, là nhơn đức tin, nhơn đức cậy và
nhơn đức kính mến. Gọi ba nhơn đức ấy là nhơn đức Đức Chúa Trời, vì chẳng những
nó bời Đức Chúa Trời mà ra, mà lại nó chỉ ngay đến Chúa, lo về Chúa, thuộc về Đức
Chúa Trời Ba Ngôi cách riêng hơn. Thường nói nhơn đức tin thuộc về Đức Chúa
Cha, bởi vì Người là mạch mọi sự chơn thật; nhơn đức cậy thuộc về Đức Chúa Con,
vì Người đã mở cửa nước thiên đàng cho ta được trông cậy hưởng phước đời đời;
nhơn đức kính mến thuộc về Đức Chúa Thánh Thần, là sự yêu mến vô cùng Đức Chúa
Cha và Đức Chúa Con. Vì vậy khi ta giữ ba nhơn đức ấy, thì ta kính Đức Chúa Trời
Ba Ngôi cách riêng: ta kính Đức Chúa Cha là Đấng chơn thật vô cùng, chẳng hề lầm
cùng dối ai đặng; ta kính Đức Chúa Con là mạch mọi sự vui vẻ khoái lạc vô cùng,
ta kính Đức Chúa Thánh Thần là lò lửa kính mến vô cùng. trọn tốt trọn lành vô
lượng vô biên, đáng cho ta yêu mến Người trên hết mọi sự. Vậy ba nhơn đức ấy là
ba nhơn đức rất trọng, vì chỉ ngay đến Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Ta sẽ cắt nghĩa về
ba nhơn đức ấy trong Giải thứ nhất. Đây ta một nói lược qua về nhơn đức căn bổn,
về Bảy ơn Đức Chúa Thánh Thần, cùng về Tám mối phước thật.
I.
— VỀ NHƠN ĐỨC CĂN BỔN
Trong nhơn đức trước, ta ra sức bắt chước cùng
tôn kính mọi việc trọn lành Đức Chúa Trời Ba Ngôi; còn trong những nhơn đức sau
này, ta ra sức bắt chước cách Đức Chúa Trời ăn ở với mọi loài mọi vật Người đã
dựng nên là thể nào. Nhơn vì sự ấy kẻ đi đàng nhơn đức hằng phải nhìn xem Đức
Chúa Trời, như gương sáng láng về mọi việc lành phước đức, mà bắt chước, theo lời
Đức Chúa Giêsu phán dạy rằng: «Bay phải nên người trọn lành, như Cha «bay ở
trên trời là Đấng trọn lành.» Nhưng mà bởi ta ở dưới đất có phần xác, ít hiểu
biết những việc lành thiêng liêng Cha ta ở trên trời làm, cho nên Đức Chúa
Giêsu bởi trời đã xuống đất, mặc lấy tính loài người ta, mà làm gương về mọi
nhơn đức, cho ta biết phải ăn ở với Đức Chúa Trời, với kẻ khác cùng với ta thể
nào, cho phải đạo làm con Đức Chúa Trời, cùng phải đạo anh em đồng bào cốt nhục
cùng nhau nữa.
..
a) — Về nhơn đức Khôn ngoan.
*Hỏi. Nhơn đức khôn ngoan là di gì?
Thưa. Là nhơn đức hay làm cho ta biết lo liệu
xét việc nào là việc lành phải làm, việc nào là việc dữ phải lánh. Vậy nhơn đức
này 1° làm cho ta xét cách thế nào cần kíp cho được sự ta muốn làm; 2° khiến ta
thương lượng toán độ, suy xét những cách thế ấy có tiện chăng; 3° khi thấy những
cách thế ấy là những phương tiện hạp, thì đức khôn ngoan liền khiến ta phải tra
tay hành sự, theo lượng độ mình đã toàn định trước.
*Hỏi. Những nhơn đức nào liên tiếp theo nhơn đức
khôn ngoan?
Thưa. Có nhiều, mà nhứt là có những nhơn đức
sau này: 1° trí nhớ suy xét việc đã qua; 2° trí hiểu lo xét việc bây giờ; 3°
lòng mềm mỏng biết toan liệu bàn tính hỏi han kẻ khác; 4° sự biết lo phòng hậu,
xem trước xét sau; 5° sự bền chí siêng năng cần mẫn, mà tìm phải lẽ nọ lẽ kia,
cho đến khi mình được biết rõ sự gì xét làm hay là phải lánh.
Hỏi. Có những điều gì nghịch cùng nhơn đức này
chăng?
Thưa. Có bốn sự này: 1° sự nhẹ dạ nhẹ tính, chẳng
hay suy xét; 2° tính dục tốc làm cho ta hành sự khi chưa kịp tra xét trước; 3°
hay theo tình tư dục, khi nhớ đến sự gì, thì liền vội yêu hay là vội ghét; 4° sự
quỉ quái xảo quyệt trong việc thế sự, hay làm cho ta dùng mưu nọ chước kia mà
lường gạt kẻ khác.
Hỏi nhơn đức khôn ngoan có phải là nhơn đức cần
cùng trọng lắm chăng?
Thưa. Là một nhơn đức rất cần, cùng rất trọng
trong những nhơn đức căn bổn, vì nhơn đức này làm cho ta giữ mực thích trung
trong mọi việc lành ta làm, chẳng thời quá, cũng không bất cập, cho nên ông
thánh Badilib nói kẻ không có nhơn đức khôn ngoan, thì như thuyền không ai cầm
lái, nếu vậy ắt là thuyền sẽ đâm vào bụi vào bờ, hay là sấn trên cồn cát, lố rạn
mà chớ. Xưa các thánh tu rừng đã nhóm nhau lại, mà xét cho biết nhơn đức nào trọng
cùng cần hơn trong việc đi đàng trọn lành, thì ông thánh Anton đoán nhơn đức
khôn ngoan là một nhơn đức dẫn đàng cho các nhơn đức khác khỏi lầm lạc, vì hoặc
chẳng cho làm thời quá, hay là giục bảo khi làm chẳng đủ.
Hỏi. Ta muốn đặng nhơn đức nầy, thì phải
làm những sự gì?
Thưa. Phải giữ năm sự nầy: 1° Phải bắt chước
vua Salomon, gắn vó nài xin cùng Đức Chúa Trời ban cho mình được sự khôn ngoan,
mà toàn độ mọi sự cho nhằm ý Chúa. Các thánh lâu nay đều làm vậy, cho nên ít
sai lầm. 2° Phải hãm dẹp tình tư dục, kẻo nó che lấp trí khôn, chẳng cho xét
theo lẽ phải. 3° Phải năng hồi tâm lại mà xét mình về mọi việc mình mới làm thể
nào, có tưởng lo, xét đoán, nói làm theo lẽ khôn ngoan chăng. 4° Phải bàn tính
với kẻ khôn ngoan, như lời Đức Chúa Thánh Thần dạy rằng: « Ở con, con chớ làm
việc vì mà chẳng « toan liệu bàn hỏi trước, như vậy thì sau con khỏi « ăn năn.
» 5° Phải năng đọc Sách Thánh, sử ký, hạnh các thánh cho biết phải ăn ở làm sao
cho khôn ngoan.
b) — Về nhơn đức Công bình
Hỏi. Nhơn đức công bình là di gì?
Thưa. Là nhơn đức hay làm cho ta đặng lòng vững
bền theo lẽ chính, mà trả cho Đức Chúa Trời những sự thuộc về Chúa, cùng trả
cho kẻ khác những sự thuộc về kẻ ấy.
Hỏi. Những nhơn đức nào tiếp theo nhơn đức
nầy?
Thưa. Có những nhơn đức sau nầy: 1° sự ái mộ
thờ phượng Đức Chúa Trời, cùng ăn năn thống hối; 2° sự tôn kính Đức Bà cùng các
thánh ở trên trời; 3° sự vâng lời chịu lụy các đấng bề trên phần đạo cùng phần
đời; 4° lòng hiếu thảo với cha mẹ, với anh em, bà con, cô bác; lại sự cha mẹ và
kẻ bề trên phải ở với con cái cùng kẻ bề dưới cho công bình; 5° thương yêu mọi
người như mình vậy; 6° dứt lòng yêu chuộng của cải thế gian quá lẽ.
*Hỏi. Có mấy điều nghịch cùng nhơn đức nầy?
Thưa. Nhứt là có hai điều nầy: 1° phạm đến lẽ
công bình cách nào; 2° đòi hỏi của mình một cách riết róng quá lẽ, nhứt là với
những kẻ khó khăn.
*Hỏi. Phải làm thế nào mà giữ nhơn đức công
bình?
Thưa. Phải giữ ba sự nầy: 1° Phải dứt lòng yêu
của cải thế gian quá lẽ, vì lòng tham lam hay sinh nhiều tội gian giảo, chước
móc dối trá, phỉnh phờ gạt gẫm. 2° Phải giữ cho khỏi tính hay ăn cắp vặt, hay lấy
ngang, mà chẳng hỏi, chẳng xin, vì nó lần lần làm cho mình bắt chước thằng
Giudà mà bán nộp Đức Chúa Giêsu. 3° Năng xét mình coi có lỗi phép công bình
cách nào chăng; mà khi thấy mình đã phạm phép công bình, tức thì lo đền bồi trả
lại cho kíp.
c) — Về nhơn đức Mạnh mẽ
*Hỏi. Nhơn đức mạnh mẽ là di gì?
Thưa. Là nhơn đức làm cho ta sẵn lòng chịu mọi
sự khó mà giữ đạo, cùng làm những việc bổn phận mình cho nên.
*Hỏi. Những nhơn đức nào tiếp theo nhơn đức mạnh
mẽ?
Thưa. Nhứt là có bốn nhơn đức nầy: 1° lòng can
đảm làm những việc mắt mỏ hiểm nghèo; 2° lòng nhịn nhục chịu mọi sự khó thường
gặp, các sự rủi ro tai hại, và thà chịu chết mà chẳng thà làm mất lòng Chúa,
như ông thánh Gióp, ông thánh Tobia cùng các thánh tử đạo đã chịu xưa, nhứt là
hãy soi gương Đức Chúa Giêsu đã chịu trăm ngàn sự thương khó vì ta, cho đến chết
trên cây thánh Giá; 3° đức quảng đại, khiến ta ăn ở rộng rãi, chẳng nệ tốn của
mà làm việc lành, cùng thương giúp kẻ lưng vơi khốn nạn; 4° nhơn đức bằng tăm bền
đỗ, khiến ta ở vững vàng một trực trong việc lành, dầu cho mắc mỏ nhọc nhằn, dầu
phải chịu bịnh hoạn, khó khan lạt lẽo chầy ngày chầy tháng, thì cũng chẳng hề bỏ
đàng nhơn đức, không thôi tán tụng ngợi khen Chúa.
‘Hỏi. Có mấy điều nghịch cùng nhơn đức này?
Thưa. Có ba sự này: 1° Chứng làm vong làm đổng, lộng lượt xơm xao cả quyết làm
những sự quá sức trí tài mình, hay là những việc chưa phải thì phải thế. 2° Chứng
ươn é nhút nhát, hay sợ chịu cực khổ, làm cho ta chẳng dám gánh vác điều phải
gánh vác theo bổn phận mình. 3° Chứng rủn chỉ sờn lòng chẳng dám chịu lấy những
việc vừa sức mình, là những việc làm cho mình nên anh hùng quán tử.
‘Hỏi. Ta muốn ăn ở mạnh mẽ thì phải làm sao?
Thưa. 1° Trước hết ta phải cầu xin Đức Chúa Thánh Thần thêm sức mạnh cho ta. Đức
Chúa Giêsu bởi lòng thương muốn cho ta theo gương Người, mà ở gan dạ mạnh mẽ uống
chén đắng cho đến cặn cáu, thì đã lập một phép Bí tích, gọi là phép Thêm sức, đặng
làm cho ta được lòng vững vàng mạnh mẽ, mà giữ đạo thánh Người cho đến chết. 2°
Ta phải lo xét trước, thường những dịp nào hay làm cho ta mất lòng nhịn nhục,
mà chẳng đặng lướt thắng tính ý riêng ta. 3° Tập mình chịu các sự gian nan vặt
vạnh, ta thường gặp hằng ngày. 4° Năng nhớ đến sự Thương khó Đức Chúa Giêsu, đã
cam lòng chịu khó vì ta là thể nào. 5° Nhớ đến phần thưởng đời, Chúa sắm để
dành cho kẻ toàn công thắng trận ở trên trời.
d)
– Về nhơn đức Tiết kiệm
*Hỏi. Nhơn đức tiết kiệm là di gì?
Thưa. Là nhơn đức đức làm cho ta dùng mọi sự
thế gian cho vừa phải: nó điều chế trong mọi việc, cùng giúp ta giữ mực thích
trung trong đồ ăn mặc, trong sự hãm mình phạt xác, trong cách ăn ở, trong sự
vui chơi phần xác nữa.
*Hỏi. Những nhơn đức nào tiếp theo nhơn đức
này?
Thưa. Nhứt là có những nhơn đức này: 1° Sự giữ
mình nết ta đức hạnh; 2° sự kiêng cữ trong việc ăn uống; 3° đức đồng trinh sạch
sẽ; 4° đức nhơn từ điều chế lòng giận dữ, chẳng cho ta sửa phạt kẻ có lỗi thời
quá; 5° đức khiêm nhượng; 6° đức hiền lành.
*Hỏi. Những sự nào nghịch cùng đức tiết kiệm?
Thưa. 1° Tính mê sung sướng xác thịt; 2° chứng
trắc nết, ăn ở quê kịch; 3° chứng bạo tàng hung dữ; 4° chứng làm biếng trễ nải.
*Hỏi. Ta muốn nên người tiết kiệm thì phải làm
những sự gì?
Thưa. 1° Phải
giữ mình sạch sẽ tùy theo bậc mình; 2° canh giữ ngũ quan; 3° giữ ngày chay
lòng, cùng ngày kiêng thịt Hội thánh buộc phải giữ; 4° chuyên việc bậc
mình; 5° ăn uống vừa phải, cho được làm việc bổn phận mình, chớ ăn no quá lẽ,
nhứt là đừng rượu chè say sưa; 6° ăn ở hiền lành hòa thuận cùng mọi người thứ tha
cho kẻ lầm lỗi; 7° hãm dẹp tính ham học, ham biết những sự chẳng cần, tính hay
tọc mạch muốn biết các sự chẳng dự đến mình, vân vân,
(Hãy coi sách Đánh giặc thiêng liêng, — Dẫn
vào đàng trọn lành, — Tập đi đàng nhơn đức, — Tóm lại đàng nhơn đức trọn lành,
— Gương Phước.)
II.
— VỀ NHỮNG ƠN ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN
Ơn Đức Chúa Thánh Thần là di gì? — Là
những thói lành trổi tính, để giúp những tài năng linh hồn ta, đặng theo mọi điều
Đức Chúa Thánh Thần soi sáng giục bảo cho chóng vánh.
Có mấy ơn Đức Chúa Thánh Thần? Có bảy:
1° Sự khôn ngoan; 2° Sự thông minh sáng láng; 3° Sự biết lo liệu; 4° Sức mạnh;
5° Hay suy biết; 6° Sự nhơn đức; 7° Sự kính sợ Đức Chúa Trời.
Ơn
Đức Chúa Thánh Thần có khác nhơn đức chăng? — Ơn Đức Chúa Thánh Thần khác
nhơn đức về ba sự nầy: 1° nhơn đức giúp tài năng linh hồn ta, cho đặng sức mà
làm việc lành, còn ơn Đức Chúa Thánh Thần giúp ta cho dễ làm các việc lành ấy;
2° nhơn đức giúp ta làm những việc lành thường, còn ơn Đức Chúa Thánh Thần giúp
ta làm những việc lành phi thường, cùng những việc hào kiệt mạnh mẽ; 3° nhơn đức
giúp ta chóng vưng theo lẽ phải, còn ơn Đức Chúa Thánh Thần làm cho ta chóng
theo điều Đức Chúa Thánh Thần giục bảo soi sáng, như khi bà thánh Apollonia,
cùng nhiều thánh tử đạo khác, chẳng đợi quân dữ quăng mình vào lửa, song
theo ơn Đức Chúa Thánh Thần soi sáng liền đi vào trong lửa; thật các thánh ấy tỏ
lòng gan dạ mạnh mẽ lắm.
Chúa ban ơn Đức Chúa Thánh Thần cho ta mà làm
chi? — Chúa có ý giúp ta đặng có lòng tin, cậy, kính mến cho vững vàng kiên cố
hơn, lại có ý giúp ta làm mọi việc lành cho chóng vánh, hầu đặng nên người nhơn
đức trọn lành. (Về mỗi ơn Đức Chúa Thánh Thần, hãy coi Điều dạy về phép Thêm sức.)
III.
— VỀ TÁM MỐI PHƯỚC THẬT
Phước thật là di gì? — Phước thật là sự làm
cho lòng trí ta đặng an nhàn ở đời này, và trông cậy ngày sau sẽ đặng thanh
nhàn tư tại vui vẻ vô cùng.
Phước thật ở tại sự gì? — Phước thật chẳng ở tại
tiền của danh vọng, cùng những sự vui sướng thế gian, song ở tại sự nhìn biết Đức
Chúa Trời, cùng kính mến Chúa mà chớ.
Có mấy mối phước thật? — Có tám mối phước thật,
như Đức Chúa Giêsu đã dạy trong sách Êvang rằng:
1°— Ai có lòng khó khăn ấy là phước thật, vì
chưng nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.
2°— Ai hiền lành ấy là phước thật, vì chưng sẽ
đặng đất Đức Chúa Trời làm của mình vậy.
3°— Ai khóc lóc ấy là phước thật, vì chưng sẽ
đặng an ủi vậy.
4°—
Ai khao khát nhơn đức trọn lành ấy là phước thật, vì chưng sẽ đặng no đủ vậy.
5° — Ai thương xót người ấy là phước thật, vì
chưng mình sẽ đặng thương xót vậy.
6° — Ai giữ lòng sạch sẽ ấy là phước thật, vì
chưng sẽ đặng thấy mặt Đức Chúa Trời vậy.
7° — Ai làm cho người hòa thuận ấy là phước thật,
vì chưng sẽ đặng gọi là con Đức Chúa Trời vậy.
8° — Ai chịu khốn nạn vì đạo ngay ấy là phước
thật, vì chưng nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.
Đức Chúa Giêsu dạy tám mối phước thật mà làm
chi? — Chúa có ý cho ta chê ghét những lẽ thói thế gian, hay khen kẻ giàu có, kẻ
đặng quyền chức sang trọng, cùng những người phong lưu sung sướng, chẳng chịu sự
gì cực, cùng gọi những kẻ ấy là những người có phước; song Chúa muốn cho ta yêu
chuộng cùng giữ lời Êvang, mà ngợi khen những kẻ có lòng khó khăn, khiêm nhượng,
hiền lành, hòa thuận, yêu người, cùng ái mộ đi đàng nhơn đức, và vui lòng chịu
khó vì Chúa, là những người có phước thật, vì ở đời này lòng trÍ kẻ ấy được an
nhàn vui vẻ, và đời sau đặng cả lòng trông cậy lên Thiên đàng, mà hưởng phước
thanh nhàn đời đời chẳng cùng.
(Coi tám mối phước thật trong Sách gẫm quanh
năm, cuốn thứ III, và thứ IV.)
Nhận xét
Đăng nhận xét