P1D2 - VỀ SỰ MẦU NHIỆM NGÔI THỨ HAI RA ĐỜI LÀM NGƯỜI
THÁNH GIÁO YẾU LÝ TAM GIẢI
PHẦN THỨ NHỨT
NHỮNG SỰ
PHẢI TIN
1.
— Phải tin có một Đức Chúa Trời, — mà có Ba
Ngôi, — đã dựng nên trời đất, Thiên thần cùng loài người ta.
2.
— Phải tin Ngôi thứ Hai đã xuống thế làm người,
— chịu nạn chịu chết vì tội loài người ta.
3.
— Phải tin những sự sau hết loài người ta, là sự
Chết, Phán xét, Thiên đàng, Hỏa ngục, gọi là Tứ chung.
BỔN NGHĨA
GIÁNG SANH CỨU THẾ,
ĐỆ NHỊ THIÊN. (*)
CHÍNH NGHĨA
ĐOẠN THỨ HAI
DẠY VỀ
SỰ NGÔI THỨ HAI RA ĐỜI LÀM NGƯỜI, — CÙNG CHUỘC TỘI THIÊN HẠ.
DIỄN NGHĨA
Ấy là hai sự mầu nhiệm rất cao rất trọng tâm lại các lễ buộc
ta phải tin, cậy, kính mến Đức Chúa Giêsu trên hết mọi sự, cùng cảm ơn Người chẳng
khi đừng, và soi gương các thánh, như là ông thánh Phaolô, mà học cho thuộc biết
tánh hạnh Người đã ra đời, cùng chịu nạn chịu chết trên cây thánh giá vì tội
loài người ta, theo như lời ông thánh ấy nói về mình rằng: « Thầy chẳng tưởng «
mình thuộc biết điều gì khác cần cùng trọng hơn, « cho bằng biết đặng Đức Chúa
Giêsu Kirixitô, cùng « biết Người đã chịu nạn chịu chết trên cây thánh « giá ».
(**)
I. — VỀ SỰ MẦU NHIỆM NGÔI THỨ Hai RA ĐỜI LÀM NGƯỜI
1) Hỏi. Ba Ngôi, Ngôi nào ra đời?
Thưa. Ngôi thứ Hai ra đời.
Trong Ba Ngôi, Ngôi nào đã xuống thế làm người?
Ngôi thứ Hai là Đức Chúa Con đã xuống thế làm người, có
linh hồn và xác như ta.
(**) Phải coi đoạn thứ mười bốn, giải nghĩa kinh Tín kính, từ Điều thứ hai cho đến Điều thứ sáu.
I. – Tiếng ra đời cùng sanh ra ở đời khác
nhau; tiếng ra đời chỉ một đấng thiêng liêng mặc lấy tính loài người ta, mà
sinh ra ở thế nầy; nhưng mà ta biết có một mình Ngôi thứ Hai đã xuống thế mặc lấy
tính loài người ta như vậy mà thôi, cho nên tiếng ra đời hiểu về sự mầu nhiệm
Con Đức Chúa Trời đã xuống thế làm người, chẳng hiểu về người nào khác nữa. Bằng
sự nói quỉ vương ngày sau ra đời, thì phải hiểu quỉ vương ấy cũng là người ta,
song bởi nó dữ tợn cùng xấu như quỉ, cho nên xem ra như quỉ đã ám lấy xác nó,
mà hiện hình ra ở đời vậy. Còn tiếng sanh ra ở đời, thì chỉ mọi người ta sinh
ra ở đời nầy, cho nên hiểu đặng về mọi người ta thay thảy.
II. – Vì ý nào Ngôi thứ Hai đã ra đời? – Chúa có
hai ý nầy: Một là, cho đặng làm sáng danh Đức Chúa Trời; hai là, cho ta đặng rỗi
linh hồn.
1° – Trước hết sự mầu nhiệm Ngôi Hai ra đời làm
sáng danh Chúa lắm, nghĩa là, làm cho ta được nhìn biết Người là Đấng phép tắc
vô cùng, vì làm đặng cho hai tính khác xa nhau vô cùng, là tính Đức Chúa Trời
cùng tính loài người ta, hiệp lại làm một triển trang liên lạc quá lẽ: xưa Chúa
dựng nên loài người giống như hình ảnh mình, rày Người nên giống như hình ảnh
ta. «Đấng có trước các đời, nay sinh ra đời, Đấng chưởng trị muôn vật, rày lấy
hình tôi tớ; Đấng hằng hưởng phước thanh nhàn, rày làm người hay chịu khó, Đấng
chẳng hay chết, rày phục luật phải chết (S. LEO).» – Cũng làm cho ta thấy tỏ
Chúa là Đấng khôn ngoan thượng trí vô cùng, vì hòa hiệp được sự công bình cùng
lòng thương xót vô cùng làm một cùng nhau, vì chưng đã gặp được cách thế giữ đức
công bình vô cùng, là bắt Con mình đền tội thay vì người ta, mà chẳng mích đức
từ bi, vì tha phạt cho kẻ có tội. — Lại làm cho ta thấy rõ Chúa rất nhơn từ tốt
lành là dường nào, vì thương loài người ta đến đỗi ban Con một mình cho ta. Ôi!
Chúa càng hạ mình xuống vì ta chừng nào, thì càng đáng cho ta kính mến Người
hơn nữa chừng ấy mà chớ. — Sau nữa làm cho ta được nhìn biết sự mầu nhiệm một Đức
Chúa Trời Ba Ngôi.
2° — Ngôi thứ Hai ra đời có ý cho ta rỗi linh hồn,
là cứu chuộc ta, cùng giúp ta cho dễ làm việc lành. Vậy Đức Chúa Giêsu đến mà cứu
ta cho khỏi mọi sự dữ, là cứu ta khỏi tội, khỏi làm tôi tá ma quỉ, khỏi sa hỏa
ngục; và giúp ta lướt thắng mọi chước cám dỗ, làm cho ta chê ghét tội trên hết
mọi sự ghét, nhứt là bớt cậy mình kiêu ngạo, là cội rễ mọi tội lỗi. — Đức Chúa
Giêsu cũng lập công mà chuộc lại cho ta mọi sự lành, là ban cho ta đặng ơn
nghĩa Chúa, các ơn giúp cùng nước thiên đàng. — Chúa đến mà giúp ta cho dễ làm
việc lành, là giúp ta cho dễ tin hơn, vì chính mình Người là Con Đức Chúa Trời
xuống thế, mà truyền mọi sự ta phải tin; làm cho ta dễ trông cậy hơn, vì Người
làm cho ta nên con Chúa, đặng lãnh phần gia tài ở trên nước thiên đàng; Người
giúp ta cho dễ kính mến Chúa hơn, vì Người là sự kính mến tin ròng lấy hình
trăm vẽ, mà giục ép lòng ta yêu dấu Người; Người đến mà giúp ta cho dễ giữ mọi
nhơn đức khác, nhứt là sự khiêm nhượng, vì Người làm gương về mọi giống phước đức
thay thảy, bày sờ sờ ở trước mặt ta, đặng ta xem mà bắt chước. Ôi! Đức Chúa
Giêsu có lòng thương ta cho đến đỗi nào!
Lại Ngôi thứ Hai ra đời có ý giúp ta, cho dễ kết hiệp
làm một cùng Đức Chúa Trời. Ta là người ở dưới đất, có phần xác, quen thấy những
vật có hình, cho nên khi phải suy về Đức Chúa Trời là Đấng thiêng liêng tinh
ròng, cùng về những sự trên trời, thì ta lấy làm khó lắm, những muốn bày vẽ
trong trí, Đức Chúa Trời có hình giống như mình vậy, ấy là điều chẳng nhằm lẽ.
Vậy Chúa thấy ta nhắc trí lòng mình cho đến tính Người chẳng nổi, thì Người đã
khấng hạ mình xuống cho đến ta, Người mặc lấy tính loài người, có xác thịt như
ta, mà đến ở giữa ta, như một người giống như ta vậy, hầu cho ta nương nhờ tính
loài người có trong Người, như cái thang, như cửa như đàng, mà lên, mà đi qua
cho đến tính Đức Chúa Trời, ngõ đặng kết hiệp làm một cùng Người. Ấy vậy nếu bây
giờ ta bày vẽ trong trí, Chúa có xác thịt như ta, thì chẳng phải là điều lầm lạc
nữa, vì hẳn thật Chúa có xác thịt giống như ta mà lại sự ấy càng giúp ta, cho dễ
cầm lòng cầm trí lại, mà suy về tính Đức Chúa Trời, cùng về những sự thiêng liêng
trên trời.
Hội thánh bởi hiểu biết ý Chúa thể ấy, cho nên đã lập những
ngày lễ quanh năm chỉ về phần xác Chúa, như lễ Sinh Nhựt, lễ Đặt Tên, lễ Ba
Vua, lễ Mình thánh Chúa, lễ Trái Tim, và lễ kính những hình khổ Chúa chịu xưa
trên xác Mình, cho giáo hữu nương lấy, mà suy cho dễ hơn về tính Đức Chúa Trời,
cùng về những sự trọn tốt trọn lành Người, như là về lòng Người thương ta quá hậu.
Sau nữa Ngôi thứ Hai ra đời, cho đặng nhắc tính loài
người ta lên bậc rất cao trọng quá phẩm, vì cho hiệp cùng tính mình, mà trở nên
Người Đức Chúa Trời, và cho ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng, trên hết
mọi loài mọi vật thay thảy. Ấy là một lẽ rất mạnh làm cho ta trông cậy sẽ đặng rỗi
linh hồn, vì Đức Chúa Giêsu là đầu ta, cho nên hễ Người ở đâu, ắt ta là phần thân
thể mầu nhiệm Người cũng sẽ đặng ở đó chẳng sai, như lời Người đã nguyện rằng:
« Lạy Cha, Con ở đâu, thì Con muốn cho những kẻ Cha đã phú cho Con, cũng được ở
đó với Con nữa, hầu được xem thấy sự sáng láng Cha đã ban cho Con.»—Ôi! Ý Chúa
rất tốt lành cùng cao trọng là dường nào! Song có ít người hiểu biết, vì chẳng
mấy khi nghe giảng, cùng nghe cắt nghĩa về sự ấy. Vậy ta phải năng coi Đức Chúa
Giêsu, phải năng suy mọi việc Chúa làm, cùng mọi nhơn đức Chúa giữ mà bắt chước,
ắt ta sẽ đặng chóng nên người thiêng liêng, cùng sẽ nói đặng như lời ông thánh
Phaolô rằng: « Vốn tôi sống, mà chẳng phải là tôi sống, song là Đức Chúa Giêsu
Kirixitô sống trong tôi mà chớ.»
2) Hỏi. Ngôi thứ Hai ra đời, nghĩa là làm sao?
Thưa. Nghĩa là, Chúa rất sang trọng vô cùng, lấy xác lấy
linh hồn, làm người hèn hạ như ta vậy.
Ngôi thứ Hai xuống thế làm người, nghĩa là gì?
Nghĩa là, Ngôi thứ Hai là Đức Chúa Con rất cao cả oai nghi
phép tắc vô cùng, mà chẳng nề hạ mình xuống, mặc lấy tính loài người hèn hạ yếu
đuối, có hồn có xác giống như ta, hầu đặng cứu ta cho khỏi chết đời đời.
Lời thưa nầy chỉ trùm sự mầu nhiệm Chúa ra đời, 1° Ai đã
ra đời? Là Ngôi thứ Hai, là Chúa sang trọng vô cùng, cho nên là Đức Chúa Trời
thật. 2° Đã lấy tính nào? Đã lấy tính loài người ta, là mặc lấy xác và linh hồn
người ta, cho nên Người là người ta thật. 3° Đã hiệp hai tính ấy lại thể nào?
Ngôi thứ Hai đã lấy tính loài người ta, mà hiệp cùng
Ngôi mình, và làm chủ tính ấy thay vì ngôi người ta, vì vậy Ngôi thứ Hai ra như
ở giữa, mà kết hiệp tính Đức Chúa Trời cùng tính loài người ta lại với nhau, và
một mình làm Ngôi chung cho hai tính ấy. Ấy vậy Đức Chúa Giêsu là Ngôi thứ Hai ấy
chúc, mà có hai tính, là tính Đức Chúa Trời, và tính loài người ta, lại dầu hai
tính ấy kết hiệp cùng nhau liên lạc luôn mặc lòng, song hai tính ấy còn giữ lại
bổn tính riêng mình, chẳng có lộn lạo cùng nhau đâu. Ấy là những sự mầu nhiệm đại
cái ta sẽ cắt nghĩa sau nầy.
Ông thánh Phaolô nói về sự ấy thể nầy rằng: « Đức Chúa
Giêsu Kirixitô, bởi Người có tính Đức Chúa Trời thật, cho nên Người tưởng mình
là Đấng bằng Đức Chúa Trời, thì Người chẳng có cướp quyền Đức Chúa Trời đâu.
Nhưng mà Người đã hạ mình xuống ra như không, mà mặc lấy hình tượng kẻ làm tôi
tá, cùng nên giống loài người ta, đến đỗi ai xem thấy cách Người ăn ở bề ngoài,
thì đều nhìn lấy Người là loài người ta. Vậy Người đã hạ mình xuống, mà vàng lời
chịu lụy cho đến chết, lại chết trên cây thánh giá. » Ôi! Chúa yêu dấu ta là dường
nào! Ai mà chẳng thương mến Người lại sao?
3) Hỏi. Ngôi thứ Hai vốn phải là người chăng?
Thưa. Vốn thật là Chúa, song khi ra đời cũng thật là người
ta nữa.
Chính gốc Ngôi thứ Hai có phải là người ta chăng?
Không, chính gốc Người là Đức Chúa Trời cùng giữ bổn tính ấy
luôn. Nhưng mà khi Người xuống thế làm người, thì Người đã lấy tính loài người
ta mà hiệp cùng tính Đức Chúa Trời mình, cho nên Người là Đức Chúa Trời thật,
mà cũng là người ta thật nữa.
Ấy vậy Đức Chúa Giêsu là Đức Chúa Trời thật, vì Người
có tính Đức Chúa Trời; mà Người cũng là người ta thật, vì Người có tính loài
người. Ấy là sự ta phải tin cho vững vàng, và khi nào ta suy về Đức Chúa Giêsu,
hoặc khi xem lễ, rước lễ, hay là khi viếng Mình thánh Chúa, thì ta chớ khá suy
Người là Đức Chúa Trời không, mà chẳng nhớ Người cũng là người ta nữa, hay là
nhớ Người là người ta, mà chẳng suy Người cũng là Đức Chúa Trời nữa. Ông thánh
Gioan dạy ta phải suy làm vậy, vì chưng khi người nói Ngôi thứ Hai là Đức Chúa
Trời, đã có thuở đầu trước hết mọi sự, cùng đã dựng nên hết mọi sự, đoạn đã
thêm rằng: « Mà « Ngôi Hai ấy đã làm người và đã ở giữa chúng ta, « mà chúng ta
đã thấy sự sang trọng phép tắc « Người, là sự sang trọng thật xứng đáng Con một
« sinh ra bởi Đức Chúa Cha, đầy ơn phước cùng « sự chơn thật. »
Khi Đức Chúa Giêsu ra đời, thì hằng là chứng minh có
hai tính ấy. Vì chưng nếu Người xuống đầu thai trong lòng Đức Bà Maria, sinh ra
trong thành Bêlem, cùng nằm trong máng cỏ về tính loài người ta, song cũng một
khi ấy Người tỏ ra mình có tính Đức Chúa trời, vì bởi phép Đức Chúa Thánh Thần
Người đã xuống thai, sinh bởi rất thánh Nữ Đồng trinh, lại Thiên thần, mục đồng
cùng Ba Vua đến thờ lạy Người như Đức Chúa Trời vậy. Lại vì bằng Người lấy hình
kẻ có tội, mà chịu ông thánh Gioan rửa mình dưới sông Giudong về tính người ta,
thì cũng một trật ấy Người làm chứng Mình là Đức Chúa Trời, vì có Đức Chúa
Thánh Thần lấy hình bò câu hiện xuống đỗ trên đầu Người, và có tiếng Đức Chúa Cha
phán rằng:
« Đăng này là Con Tao yêu dấu, cùng đẹp lòng Tao mọi đàng.
» Vì bằng Người ăn ở hèn hạ khó khăn, biết đói biết khát, biết mỏi mệt về tính
loài người ta, song Người là Đức Chúa Trời thật, vì khi Người tịnh trai trên rừng,
có các đấng Thiên Thần xuống chầu chực giúp đỡ Người; và Người lấy phép tắc
riêng mình, mà làm phép lạ vô hồi vô số. Lại vì bằng Người chịu nạn chịu chết,
cùng chịu mai táng trong huyệt đá mới về tính loài người ta, song cũng một trật
ấy Người tỏ ra mình là Đức Chúa Trời, vì Người phán một tiếng, tức thì quản dữ
đến bắt Người ngã lăn xuống đất, lại khi Người chết trên cây thánh giá, thì mặt
trời mất sáng, có đất đỏng, núi vỡ, đá tan, và dầu xác Người nằm trong mồ ba
ngày, chẳng hư thúi như xác kẻ khác, song nhưt là Người lấy phép tắc riêng
mình, mà sống lại ra khỏi huyệt đá sáng láng tốt lành. Hẳn thật Đức Chúa Giêsu
hằng làm chứng Mình là Đức Chúa Trời, và cũng là người ta nữa. Vậy khi ta suy về
Đức Chúa Giêsu, thì ta phải nhớ về hai tính ấy một trật, cho ta biết cám đội,
cùng tin, cậy, kính mến Người nhiều hơn.
Lại bởi Đức Chúa Giêsu hằng kết hiệp cùng Đức Chúa Cha và
Đức Chúa Thánh Thần, cho nên khi ta có Đức Chúa Giêsu ngự trong lòng ta, thì ta
cũng có hai Ngôi kia ở với ta nữa. Ấy là sự ít người suy đến, cho nên chẳng được
lòng tin cho vững vàng, trông cậy cho bền đỗ, cùng kính mến Chúa cho sốt sắng,
và chẳng có lòng khiêm nhượng hạ mình xuống cho thẳm sâu trước mặt Đức Chúa Trời.
4) Hỏi. Ngôi thứ Nhứt, Ngôi thứ Ba có ra đời chăng?
Thưa. Có một Ngôi thứ Hai ra đời mà thôi.
Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần có mặc lấy tình loài
người ta, mà xuống thế chăng?
Vốn Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần có ra đời cũng đặng,
song đức tin dạy ta phải xưng ra, có một mình Đức Chúa Con xuống thế làm người
mà thôi.
Mà vì ý nào Ngôi thứ Hai ra đời, chẳng phải là Đức Chúa
Cha hay là Đức Chúa Thánh Thần, thì các thánh Sư nói có nhiều lẽ xứng hạp, song
nhứt là vì lẽ chánh nầy, là vì Ngôi thứ Hai là Con một Đức Chúa Cha, nay xuống
thế làm người, hầu tỏ ra cho thế gian đặng biết, có một Cha rất tốt lành ở trên
trời, đã sinh ra mình từ thuở đời, và sai mình xuống thế, mà chuộc lại cho ta quyền
chức làm con Đức Chúa Trời, là bậc rất trọng, cùng soi gương mình cho biết phải
ăn ở thể nào, cho xứng đạo kẻ làm con Cha rất tốt lành cao trọng dường ấy. Bởi
đó cho nên, khi Chúa ra giảng dạy, thì năng nhắc lại cho ta biết, ta có một Cha
ở trên trời, hằng lo lắng về ta, cho nên ta phải tin, cậy, kính mến Người. Chúa
lại đặt ra một kinh rất trọng, là kinh Lạy Cha, cho ta đặng nhớ luôn quyền chức
mình đặng làm con cái Đức Chúa Trời, cùng chỉ những việc ta phải làm, mà tôn
kính Người, và những ơn phần hồn phần xác ta phải xin cùng Người nữa. — Nhưng
mà hễ con có cha, thì cũng có mẹ, song Đức Chúa Giêsu về tính Đức Chúa Trời, có
Cha mà không có mẹ, vì vậy Chúa ra đời làm người đã chọn Đức Bà Maria làm Mẹ
mình, cùng ban Người làm Mẹ ta nữa. Ôi! Đức Chúa Trời có lòng thương ta là dường
nào, đến đỗi ban ơn cho ta được gọi là con cái Người, cùng nên con Người thật,
lại cho ta làm con Đức Mẹ nữa! Vậy như ta phải lấy lòng sốt sắng, mà năng đọc
kinh Lạy Cha, cho đặng nhớ ơn trọng ta đặng làm con cái Chúa, thì ta cũng lấy
lòng ái mộ mà năng đọc kinh Kính mừng, cho đặng nhớ phần phước ta được làm con
Đức Mẹ nữa. Vì chưng khi Đức Mẹ mới chịu thai Đức Chúa Giêsu trong dạ, cũng một
trật ấy Người đã khỉ sự làm Mẹ ta.
5) Hỏi. Ngôi thứ Hai lấy xác lấy linh hồn ở đâu làm người
mà ra đời?
Thưa. Người xuống thai trong lòng rất thánh Đức Bà Maria
trọn đời đồng trinh.
Đức Chúa Con đã xuống thế làm người thể nào, và ở trong
lòng ai?
Đức Chúa Con xuống thế mặc lấy tính loài người ta, trong
lòng rất thánh Đức Bà Maria, là kẻ giữ mình đồng trinh sạch sẽ cho đến trọn đời.
Ngôi thứ Hai đã xuống thế mặc lấy tính loài người ta,
trong lòng Đức Bà thể nầy: khi đã đến kì Chúa Cứu thế ra đời mà chuộc tội cho
thiên hạ, từ dựng nên trời đất đặng bốn ngàn năm, thì Đức Chúa Trời sai Tổng
lãnh thiên thần Gabirie hiện đến cùng rất thánh Nữ Đồng trinh Maria, mà truyền
cho Người hay, ý Chúa muốn chọn Người làm Mẹ sinh ra Đấng Cứu thế ấy. Khi Đức Mẹ
thưa ưng chịu mà vâng lịnh Chúa dạy, tức thì Đức Chúa Thánh Thần lấy máu cực
thanh cực tịnh trong lòng Đức Mẹ, mà tạc hình phần xác, bởi không lại dựng một
linh hồn hiệp cùng xác ấy mà nên người ta, cũng một lượt ấy Ngôi thứ Hai liền
hiệp với linh hồn và xác ấy, mà nên người thật như ta vậy, thiếu một điều là chẳng
có ngôi người ta mà thôi, song được Ngôi thứ Hai, là Chúa cao cả trọng vọng vô
cùng, làm Ngôi riêng mình, thế lại ngôi người ta.
Ấy vậy trong Đức Chúa Giêsu có hai tính, là tính Đức
Chúa Trời cùng tính loài người ta, song có một Ngôi mà thôi là Ngôi thứ Hai;
nhưng mà chẳng phải hiểu rằng: Tính Đức Chúa Trời cùng tính loài người ta hiệp
nhau lại, mà làm một Ngôi là Đức Chúa Giêsu, song phải hiểu rằng: Đức Chúa
Giêsu là Ngôi thứ Hai ấy chúc đã lấy tính loài người ta, mà hiệp cùng tính Đức
Chúa Trời mình, một cách liên lạc bền chặt đời đời; song hai tính ấy chẳng có lộn
lạo cùng nhau, mỗi tính đều giữ những sự riêng thuộc về tính mình: ấy là sự Hội
thánh buộc ta phải tin cho vững vàng, mựa khá hồ nghi.
I. — Vậy bởi trong Đức Chúa Giêsu có một Ngôi mà thôi
là Ngôi thứ Hai, là Con một Đức Chúa Cha, thì có những điều mầu nhiệm cao trọng
này: 1° Mọi việc gì tính người ta làm cùng chịu trong Đức Chúa Giêsu, thì là việc
Đức Chúa Trời Ngôi thứ Hai làm cùng chịu, cho nên mọi việc ấy có công trọng vô
cùng, chẳng những đền tội ta vừa đủ, mà lại dầu cứu chuộc muôn vàn thế gian
khác, thì cũng còn dư dật nữa. Lại dầu một lời Chúa cầu xin than thở cùng Đức
Chúa Cha, thì cũng có công vô cùng, làm sáng danh Đức Chúa Trời hơn mọi lời
chúc tụng Thiên thần các thánh, và có sức mà đền tội cho cả và loài người ta nữa.
Vậy ta phải suy, khi xem lễ, rước lễ, thì cả và Đức Chúa Giêsu trở nên của
riêng ta, cho ta nhờ mà thờ phượng cảm tạ Đức Chúa Trời, và đền tội ta cùng xin
được mọi ơn lành, nhơn sao ta chẳng lo dùng của trọng đường ấy? 2° Rất thánh Đức
Bà Maria là Mẹ thật Đức Chúa Trời, vì khi Đức Mẹ chịu thai, thì đã chịu thai
Ngôi thứ Hai có tính Đức Chúa Trời và tính loài người ta, cho nên Đức Mẹ là Mẹ
thật Đức Chúa Trời mà chớ. 3° Đức Chúa Giêsu là Con một Đức Cha, chẳng những về
tính Đức Chúa Trời, mà lại về tính loài người ta nữa. 4° Ta phải thờ phượng Đức
Chúa Giêsu bằng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần, vì Người là Đức Chúa Trời
thật, có một tính một phép cũng bằng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần mọi
đàng. Mà lại mọi phần thân thể Đức Chúa Giêsu cũng đáng thờ phượng, vì là phần
thân thể Đức Chúa Trời; ấy vậy mình thánh, xác thánh Đức Chúa Giêsu trong phép
Thánh Thể, và máu thánh Chúa cùng Trái tim Chúa đáng thờ lạy kính chuộng vô
cùng, vì xác, máu cùng Trái tim ấy hằng hiệp thành một thể cùng Ngôi thứ Hai
luôn. 5° Nói đặng về Đức Chúa Giêsu rằng: Đức Chúa Trời đã xuống thế làm người,
đã sinh ra đời, đã chịu nạn chịu chết, hay là nói: một người loài người ta là Đức
Chúa Trời, có phép tắc vô cùng, lòng lành vô lượng vô biên. Vì chưng những tiếng
ấy chỉ về Đức Chúa Giêsu có gồm hai tính một lượt.
II. — Lại trong Đức Chúa Giêsu có hai tính, là
tính Đức Chúa Trời cùng tính người ta, mà hai tính ấy hiệp cùng nhau một cách
triển trang liên lạc đời đời, chẳng hề lìa khỏi nhau bao giờ sốt, song hai tính
ấy chẳng lộn lạo cùng nhau, mỗi tính đều giữ những sự riêng thuộc về tính mình.
— Vậy bởi Đức Chúa Giêsu có tính Đức Chúa Trời, thì Người có ý muốn, và mọi sự
trọn tốt trọn lành vô cùng thuộc về bổn tính ấy. Vì vậy Người là Đấng tự hữu hằng
có đời đời, là đầu cội rễ dựng nên hết mọi sự, cùng hằng bảo tồn vạn vật làm một
với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần, Người ở khắp mọi nơi, sáng láng thấu
suốt hết mọi sự trên trời dưới đất, dầu những sự kín nhiệm trong lòng người ta,
những điều quá khứ vị lai, thì Người cũng hiểu biết tường tận nữa. — Người là Đấng
rất thánh, có lòng ghét tội vô cùng, công bình vô cùng, mà cũng lòng lành vô lượng
vô biên, thương yêu loài người ta quá trí khôn lường. — Người cũng là chính căn
bổn làm cho Thiên thần, cùng các thánh hưởng phước vui vẻ vô cùng. — Lại Đức
Chúa Giêsu có tính loài người ta, cho nên cũng có linh hồn và xác, cùng mọi sự
riêng thuộc về tính ấy nữa. Vì vậy Đức Chúa Trời có phần xác và phần thân thể
như ta, song khác xa phần xác ta lắm, vì xác Đức Chúa Giêsu và các phần thân thể
Người hiệp thành một thể cùng Ngôi thứ Hai luôn, cho nên là xác rất thánh, đáng
kính chuộng vô ngần, lại dầu xác ấy chết rồi nằm trong huyệt đá ba ngày, thì
cũng đáng kính chuộng vô cùng, vì tính Đức Chúa Trời hằng hiệp cùng xác ấy, chờ
đến ngày thứ ba, mà cho xác ấy sống lại sáng láng vang hiền tốt lành.
Mà vì ý nào Đức Chúa Giêsu muốn lấy xác loài người ta
mà ra đời? — Chúa có nhiều ý mầu nhiệm: 1° Cho xác ấy trở nên đền thờ, cung
thánh cho linh hồn Người cùng tính Đức Chúa Trời ngự đó luôn, mà thờ phượng
Chúa và chuyển cầu cho ta, lại làm gương cho ta biết gìn giữ xác ta là thể nào,
vì xác ta bởi chịu phép Rửa tội, mà nhứt là bởi rước lễ, cũng đã trở nên đền thờ
Đức Chúa Trời Ba Ngôi ngự nữa. 2° Đức Chúa Giêsu mặc lấy xác, cho được làm
gương về mọi nhơn đức bề ngoài, cho ta soi mà bắt chước, hầu biết khi đọc kinh
xem lễ, khi nói về Chúa, thì phải có lòng cung kính khiêm nhượng là thể nào, —
lại phải ở thật thà, công bình, hiền lành, nhơn từ với kẻ khác làm sao, — sau nữa
phải giữ sự làm thinh, phải làm việc xác, phải biết hãm mình ép xác chịu khó,
cùng bắt nó khinh dể mọi của phù vân là thể nào. 3° Đức Chúa Giêsu đã mặc lấy
phần xác như của lễ đền tội, mà làm phỉ nguyền phép công bình Đức Chúa Trời. 4°
Đức Chúa Giêsu có phần xác, hầu nên lương thực cho dễ ngự vào lòng ta, mà nuôi
lấy linh hồn ta. 5° Đức Chúa Giêsu mặc lấy phần xác, như dấu bày tỏ các nhơn đức
linh hồn, cùng những sự trọn lành Đức Chúa Trời, và nên giống Chúa dùng mà làm
phép lạ vô số, đặng làm chứng Mình là Chúa Cứu thế cùng là Đức Chúa Trời thật.
6° Sau nữa Đức Chúa Giêsu có ý cho xác thánh vinh hiển Người ngày sau nên cội rễ,
mà làm cho phần xác, và ngũ quan ta được hưởng mọi sự vui vẻ khoái lạc ở trên
nước thiên đàng. Ôi! xác Đức Chúa Giêsu rất cao trọng đáng kính chuộng vô cùng
là dường nào! Nhưng mà bởi lòng thương ta Chúa đã phú xác ấy chịu các giống
hình khổ, các thứ sỉ nhục cùng mọi sự đau đớn gian nan, mà đền tội ta, thì có lẽ
nào mà ta chẳng kính mến Người, hầu trả nghĩa lại sao?
Đức Chúa Giêsu lại có linh hồn cùng các tài năng là trí
khôn, trí nhớ, và lòng muốn giống như linh hồn ta; song cũng khác xa lắm, vì
linh hồn cùng các tài năng Đức Chúa Giêsu hằng hiệp thành một thể cùng Ngôi thứ
Hai, cho nên đáng kính chuộng vô cùng. Ấy vậy 1° Linh hồn Đức Chúa Giêsu là
thánh vô cùng, bởi sự thánh Ngôi thứ Hai thông ra cho mình, làm cho linh hồn ấy
ghét tội vô cùng, chẳng có lẽ gì mà phạm tội đặng. Lại linh hồn Đức Chúa Giêsu
đặng ơn nghĩa thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời hơn Thiên thần cùng các thánh thay
thảy, và đặng đầy dẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh Thần, cùng các nhơn đức khác quá
trí khôn lường. Nhơn vì sự ấy Đức Chúa Giêsu là thánh trên hết các thánh, cùng
làm cho người ta được nên thánh nữa. Và khi Đức Chúa Giêsu vừa thọ sinh trong
lòng Ðức Mẹ, cũng một khi ấy Người đầy dẫy mọi ơn mọi phước tràn trề, chẳng có
lẽ thêm đặng. 2° Lại Đức Chúa Giêsu vừa xuống đầu thai, cũng một khi ấy linh hồn
Người đặng xem thấy tính Đức Chúa Trời tỏ tường, quá hơn Thiên thần cùng các
thánh đang hưởng thấy mặt Chúa bấy giờ ở trên trời; linh hồn Người đặng thông
suốt mọi sự trên trời dưới đất, Chúa thấy rõ cùng biết hết mọi loài tường tận
cho đến rốt cùng đời. Vì vậy khi Chúa ở trong lòng Đức Mẹ, sinh ra tại thành
Bêlem, nương ngụ tại Nadarét, chịu chết trên cây thánh giá, thì Chúa thấy và biết
hết mỗi một người trong ta, dầu những sự kín nhiệm trong lòng ta, thì trí khôn
Chúa cũng rõ thấu nữa. 3° Sau nữa Đức Chúa Giêsu vừa xuống thế làm Người; tức
thì liền khỉ sự kính mến Đức Chúa Trời, cùng yêu người ta vô lượng vô biên; Người
phú trót mình cho Đức Chúa Trời, muốn thuận theo ý Chúa mọi đàng, mà bởi biết ý
Chúa muốn cho mình chịu nạn chịu chết, mà chuộc tội cho thiên hạ, cho nên Người
liền vui lòng ôm lấy cây thánh giá vì phần rỗi người ta, Ôi! Đức Chúa Giêsu có
lòng yêu dấu ta là dường nào! Ấy kể lược qua một ít sự mầu nhiệm về Đức Chúa
Giêsu, ta phải năng nhớ năng suy, cho được sinh lòng mến Người một lâu một nhiều
hơn nữa.
Nhưng mà có ít kẻ hiểu biết những sự trọn tốt trọn lành
trong linh hồn Đức Chúa Giêsu là thể nào! Có nhiều người biết hạnh Chúa bề
ngoài, như sự Người xuống đầu thai trong lòng Đức Mẹ, sự Người sinh ra tại
thành Bêlem, sự Người nương náu tại thành Nadarét, ra giảng tại nước Giudéu, chịu
nạn chịu chết trên cây thánh giá. Hẳn thật phải biết những sự ấy, song biết bấy
nhiêu mà thôi thì chẳng gọi là biết tánh hạnh Đức Chúa Giêsu cho trọn; phải thấu
vào bề trong cho đến Trái tim Người; mà học các sự trọn tốt trọn lành vô cùng
Người, nhứt là lòng Người thương ta cho đến đỗi liều mình chết vì ta, cùng lập
phép Thánh Thể, mà cứ ở lại với ta cho đến tận thế.
Hẳn thật trước phải dạy cho người ta hiểu biết tánh hạnh
Chúa bề ngoài, mà khi thấy thuộc biết khá rồi, thì sau phải cắt nghĩa những sự
mầu nhiệm về tánh hạnh Chúa bề trong. Nhứt là phải giảng về sự ấy ngày Chúa nhựt,
hoặc sớm mai hay là buổi chiều.
6) Hỏi. Đức Bà trọn đời đồng trinh mà chịu thai làm
sao đặng?
Thưa. Chẳng phải là sự thường như người thế gian, song thật
bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, cho nên khi chịu thai cùng sinh đẻ, mà hãy còn trọn
mình đồng trinh sạch sẽ.
Đức Bà đã chịu thai cùng sinh đẻ con, mà còn gọi là kẻ đồng
trinh làm sao đặng?
Sự Đức Bà chịu thai cùng sinh đẻ con, chẳng phải là việc
thường lề như thói quen người ta đâu, vì người ta khi chịu thai cùng sinh đẻ,
thì liền mất bậc đồng trinh. Song Đức Mẹ chịu thai Ngôi thứ Hai bởi phép lạ Đức
Chúa Thánh Thần làm, mà gìn giữ Người cho khỏi mất sự đồng trinh. Bởi đó dầu
khi chịu thai, dầu khi sinh đẻ con đoạn, thì Đức Mẹ hãy còn giữ bậc đồng trinh
sạch sẽ cho đến chết. Ấy là ơn riêng lạ có một mình Đức Mẹ đã đặng; cũng là một
điều thuộc về đức tin buộc các giáo hữu phải tin vững vàng, mựa khá hồ nghi.
Nhận xét
Đăng nhận xét