II _ VỀ SỰ MẦU NHIỆM CÓ MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI

 

THÁNH GIÁO YẾU LÝ TAM GIẢI

PHẦN THỨ NHỨT

NHỮNG SỰ PHẢI TIN

1.      — Phải tin có một Đức Chúa Trời, — mà có Ba Ngôi, — đã dựng nên trời đất, Thiên thần cùng loài người ta.

2.      — Phải tin Ngôi thứ Hai đã xuống thế làm người, — chịu nạn chịu chết vì tội loài người ta.

3.      — Phải tin những sự sau hết loài người ta, là sự Chết, Phán xét, Thiên đàng, Hỏa ngục, gọi là Tứ chung.

 

BỔN NGHĨA

THIÊN CHÚA NHỨT THỂ TAM VỊ, ĐỂ NHỨT THIÊN. (*)

CHÍNH NGHĨA

ĐOẠN THỨ NHỨT. ĐẠO THÁNH DẠY TA TIN CÓ MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI, — BA NGÔI. — ĐÃ DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT, THIÊN THẦN CÙNG LOÀI NGƯỜI TA.

 NGHE AUDIO



II. — VỀ SỰ MẦU NHIỆM CÓ MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI

2) Hỏi. Đức Chúa Trời là ai?

Thưa. Là Đấng dựng nên trời đất muôn vật.

Đức Chúa Trời là Đấng nào?

Là Đấng tự hữu, bởi không đã làm nên cho có trời đất, những sự thấy đặng cùng những sự chẳng thấy đặng.

— Tiếng Đức Chúa Trời hay là Thiên Chúa, nghĩa là, Đấng làm Chủ, làm Chúa trời. Dầu Đức Chúa Trời cũng làm Chủ đất nầy mặc lòng, song ta gọi Người là Chúa, là Chủ trời, có ý cho ta nhìn biết Đức Chúa Trời là Đấng sang trọng cao cả vô lượng vô biên, vì Người là Chúa cai các tầng trời cùng mọi sự trên ấy; lại tiếng Đức Chúa Trời cũng làm cho ta đầy lòng vui mừng, trông cậy cùng hạ mình xuống, vì Đấng cai trị các tầng trời ấy cũng là Cha ta, dựng nên trời đất vì ta, cùng sắm nước Thiên đàng ở trên trời, cho ta đặng hưởng phước và cai trị làm một với Người; nhưng mà tiếng ấy cũng làm cho ta phải hạ mình xuống, vì ta là loài ở dưới đất, cùng xấu xa hèn hạ nói không xiết.

— Ta thêm tiếng tự hữu, mà chỉ cả và bổn tính Đức Chúa Trời, những việc Chúa làm bề trong cùng bề ngoài, cho nên chỉ gồm trụm các sự trọn tốt trọn lành vô cùng Người.

3° — Tiếng dựng nên, nghĩa là, bởi không mà làm ra cho có, thì phải hiểu rằng: trước chẳng có trời, chẳng có đất, mà sau Đức Chúa Trời đã làm nên cho có trời đất.

— Tiếng muôn vật chỉ trụm hết mọi loài mọi vật trên trời dưới đất, mà mọi loài mọi vật ấy chia ra làm hai hạng: một hạng gọi là những vật hữu hình, có xác, ngũ quan ta thấy đặng, biết đặng, như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, màu sắc, mùi hơi, gió, khí, thảo mộc, cầm thú, côn trùng, cá, núi cùng phần xác ta. Hạng khác gọi là những vật vô hình, thiêng liêng, ngũ quan ta thấy chẳng đặng, biết chẳng đặng, như Thiên thần, linh hồn ta, ơn Chúa cùng các sự thiêng liêng. Vậy bởi không mà Đức Chúa Trời dựng nên cho có các sự ấy.

— Mà có Đấng tự hữu dựng nên trời đất muôn vật ấy chăng? — Có sáu lẽ làm chứng có Đức Chúa Trời là Đấng tự hữu, đã dựng nên trời đất muôn vật thay thảy.

a) Thấy trời đất muôn vật liền biết có Đức Chúa Trời; như khi thấy nhà hay là đền đài lầu các rất xinh tốt, tức thì biết có thợ khôn khéo đã làm nhà hay là đền đài ấy; cũng một lẽ ấy thấy trời đất rộng rãi cao lớn quá lẽ, thì tự nhiên ta liền biết có Đấng phép tắc vô cùng, cầm quyền ra màu nhiệm đã làm, thì mới có mà chớ; mà Đấng ấy là Đức Chúa Trời.

b) Thấy trong trời đất có thứ tự lớp lang khôn khéo lạ lùng, như thấy mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, càn triền luân chuyển theo độ số thật mực thật chừng, bốn mùa đắp đổi nhau luôn, đất sinh ra hoa quả thảo mộc, lại thân thể người ta, cùng muôn vật khác có những điều nhiệm lạ quá trí khôn lường, tức thì ta liền biết phải có Đấng phép tắc vô cùng, tài cao trí huệ vô lượng vô biên, cầm quyền xem sóc cùng cai trị mọi sự ấy mà chớ.

c) Mọi dân mọi đời đều thuận một ý, mà nhìn có Chúa tể càn khôn dựng nên trời đất muôn vật, cho nên lập chùa dựng miếu mà thờ Đấng ấy; lại khi những kẻ ấy làm nạn, hay là bị kẻ khác làm húng hiếp mình, liền kêu lên rằng: « Trời ôi! Xin hãy cứu tôi! Xin hãy chứng minh tôi oan ức lắm! Xin trời thương! Nhờ trời mới đặng khá ». Vậy tự nhiên mọi người đều nhìn có Đấng cao cả cai trị mọi sự, mà Đấng ấy ta gọi là Đức Chúa Trời.

d) Lương tâm ta cũng làm chứng có Đức Chúa Trời, vì khi ta làm điều gì xấu xa trái lẽ, dầu không ai thấy, không ai hay mặc lòng, song ta bối rối sợ hãi rầu rĩ, vì ta nhìn biết có Đấng kia ở trên đầu ta, thấu biết tường tận mọi sự, Người thấy sự ta làm, nên tự nhiên ta sợ Người sẽ phạt ta, bởi đó tự nhiên bắt bối rối rầu rĩ mà chớ.

e) Ta có cả và sách Sấm truyền cũ và Sấm truyền mới, là lời Đức Chúa Trời đều làm chứng có Đức Chúa Trời.

f) Sau nữa đức tin dạy ta phải tin vững vàng, có Đức Chúa Trời là Đấng làm đầu cội rễ dựng nên mọi sự, cùng là phước chúng ta nữa, như mọi ngày ta đọc trong kinh Tin kính rằng: Tôi tin kính Đức Chúa Trời, là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

3) Hỏi, Đức Chúa Trời lấy di gì mà dựng nên trời đất muôn vật?

Thưa. Lấy phép tắc vô cùng.

Chúa có dùng vật nào, mà gây dựng cho có trời đất muôn vật chăng?

Chúa không cần phải dùng vật nào sốt, Chúa một dùng tài cao trí huệ, và lòng nhơn từ vô lượng vô biên mình, mà dựng nên hết mọi sự cho có.

4) Hỏi, Lấy phép tắc vô cùng nghĩa là làm sao?

Thưa. Nghĩa là, Người phán một lời, liền bởi không liền mới có trời đất muôn vật.

Chúa dùng tài cao trí huệ, cùng lòng nhơn từ vô lượng vô biên mình nghĩa là gì?

Nghĩa là, bởi lòng Chúa nhơn từ muốn thông sự lành mình ra cho mọi loài đặng nhờ, như phán một tiếng trong lòng trí mình, tức thì liền có trời đất cùng mọi sự trong ấy thay thảy.

Hẳn thật có một mình Đức Chúa Trời là Đấng phép tắc vô cùng mà chớ. Vua chúa thế gian quen khoe mình là kẻ có quyền phép cả, song vốn là không ở trước mặt Đức Chúa Trời. Vì chưng dầu các vua các nước thể gian dùng cả và sức, cùng trí khôn ngoan mình, thì dựng nên một con muỗi, con móng, con mạt hay là một hột lúa cũng chẳng đặng.

Song Đức Chúa Trời muốn một cái, phán một tiếng, tức thì nào trời đất, nhựt nguyệt, tinh thần, nào cầm thú, thảo mộc, hoa quả, côn trùng, cá mú, sông biển, núi non, liền có đủ hết, mà không hề phải sửa đi sửa lại, hay là phải tốn của, thì khắc, cùng nhọc công. Lại sự Đức Chúa Trời dựng nên trời đất, và sự ông thợ dựng nên nhà cửa, hai ấy cách xa nhau vô cùng. Ông thợ cần phải có nhiều vật trước, như cây gỗ, đá gạch, lại phải nhọc nhằn, phải tốn nhiều ngày nhiều tháng mới làm đặng một cái nhà nhỏ. Bằng Đức Chúa Trời phán một tiếng, liền có đủ mọi sự. Vậy 1° ta phải kính sợ một mình Đức Chúa Trời là Đấng phép tắc vô cùng, chớ vì nể ai mà dám làm mất lòng Người; 2° phải trông cậy một mình Người, vì Người có muôn cách mà cứu ta cho khỏi mọi sự dữ, và cho ta gặp được mọi sự lành; 3° phải ở khiêm nhượng trước mặt Người; 4° phải kính mến Người, vì Đấng phép tắc dường ấy hằng lo lắng nuôi dưỡng coi sóc ta, cùng thương ta quá hơn cha mẹ thương con.

5) Hỏi. Vì ý nào mà Đức Chúa Trời dựng nên trời đất muôn vật?

Thưa. Có ý cho sáng danh Người, cùng cho ta đặng dùng.

Chúa dựng nên trời đất muôn vật mà làm chi?

Chúa có hai ý này: 1. cho ta đặng nhìn biết Chúa là Đấng phép tắc, khôn ngoan, trí huệ và tốt lành vô cùng, hằng xem sóc, nuôi dưỡng gìn giữ cùng cai trị mọi sự; 2. Chúa có ý cho những vật ấy giúp ta đặng rỗi linh hồn.

— Có ý cho sáng danh Người. Nghĩa là Đức Chúa Trời có ý cho mọi sự trên trời dưới đất làm cho ta đặng hiểu biết, cùng tin thật 1° có Đấng đã dựng nên các sự ấy, là Đức Chúa Trời chúc; 2° Chúa là Đấng khôn khéo và phép tắc vô cùng, sang trọng và giàu có vô lượng vô biên; 3° Chúa là Đấng bảo tồn xem sóc cai trị mọi sự; 4° Chúa là Đấng nhơn từ và tốt lành vô cùng, nuôi dưỡng mọi loài hằng ngày đặng ấm cật no lòng, nhứt là hằng lo lắng về loài người ta là con cái mình cách riêng, dầu một sợi tóc trên đầu, Chúa cũng đếm nữa; cho nên ta phải thờ phượng, tin, cậy cùng kính mến Người trên hết mọi sự mà chớ. Vua thánh Davit, cùng nhiều thánh khác năng suy mọi sự trên trời dưới đất, mà ngợi khen Đức Chúa Trời, cùng cảm tạ đội ơn Chúa, và giục lòng mình kính mến Chúa nữa.

— Cho ta đặng dùng. Tiếng ấy chỉ ta chẳng có làm chủ cả mọi sự ta có, song Đức Chúa Trời là Chủ cả ban phép cho ta đặng dùng mọi của ấy theo ý Người, và có ngày Người sẽ đòi ta đến tòa Người, mà tra hỏi ta đã dùng của Người thể nào. Nếu đã dùng nên theo ý Người, thì Người sẽ thưởng ta lên thiên đàng; nhược bằng ta dùng chẳng nên, thì Người sẽ phạt ta sa xuống hỏa ngục, như truyện thằng đầy tớ biếng nhác kia đã chôn bạc chủ nó dưới đất, chẳng lo sinh lời cho chủ nó. Vậy linh hồn và xác ta, cùng mọi tài năng và ngũ quan, và của cải ở đời là của Đức Chúa Trời ban phát cho ta mượn mà làm việc Chúa, là thờ phượng kính mến Người ở đời này. Nếu ta dùng nên, thì ngày sau Người sẽ thưởng cho ta lên nước thiên đàng; ví bằng ta dùng mà phạm tội, thì Chúa sẽ phạt ta sa xuống hỏa ngục mà chớ.

6) Hỏi. Thuở chưa có trời đất, Đức Chúa Trời ở đâu?

Thưa. Trước sau cũng vậy, vì Người là tính thiêng liêng, chẳng lựa có nơi nào, thì mới ở đặng.

Hỏi chưa có trời đất thì Chúa nương ngụ ở chỗ nào?

Đầu trước khi có trời đất, đầu sau đã có rồi thì Đức Chúa Trời chẳng cần những vật ấy, vì Người hằng có luôn trước thuở tạo thiên lập địa; lại vì Người là Đấng thiêng liêng vô hình vô tượng, không cần phải có chỗ nào mà ở.

Thế gian nầy mới có từ sáu ngàn năm nay, song trước khi Chúa dựng nên trời đất, thì biết đã mấy triệu đời có Đức Chúa Trời rồi! Mà Chúa khi ấy ở đâu? làm việc gì? — Từ đời đời Ba Ngôi là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần hằng ở cùng nhau, hằng thanh nhàn tư tại vinh phước chẳng cùng. Vậy nếu Chúa dựng nên trời đất, chẳng phải vì Chúa cần phải có chỗ mà ở như ta đâu; song Chúa là Đấng tự túc tốt lành vô cùng, đã dựng nên trời đất cùng sinh ra ta, thì có ý cho ta và mọi loài đặng nhờ phước dư dật mình. Vậy ta phải vui mừng, vì Chúa giàu có sang trọng vô cùng, không cần nhờ ai, song mọi vật cần phải nhờ Người mà thôi. Lại ta phải kính mến Đức Chúa Trời, vì từ thuở đời đời Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần nhớ đến ta, thương ta, tính cùng nhau mà dựng nên ta, và ban phát mọi sự lành cho ta. Vậy Chúa đã thương ta lâu đời là chừng nào! mà sao ta chẳng kính mến Người?

7) Hỏi. Ai sinh ra ta?

Thưa. Đức Chúa Trời sinh ra ta.

Đấng nào đã dựng nên xác hồn chúng ta?

Có một mình Chúa đã sinh dựng nên xác hồn chúng ta mà thôi.

Trước một trăm năm nay ta là vật gì? — Là không. Bây giờ ta sinh ra ở đời nầy có linh hồn có xác, thì ai đã ban cho ta có bấy nhiêu sự ấy? — Thật, chẳng phải là Thần, là Phật nào, hay là cha mẹ ta đã sinh dựng ra ta, cùng cho ta những sự ấy: chỉ thật có một mình Đức Chúa Trời, đã dựng hồn xác ta cùng cho ta sinh ra ở đời này, lại hằng xem sóc nuôi dưỡng cùng gìn giữ ta mà chớ.

Vậy ta phải làm ba sự này: Một là, phải hạ mình xuống, ở khiêm nhượng, vì vốn ta là không. Hai là, phải cảm đội ơn Chúa, vì mọi sự gì ta có là của Chúa ban cho ta. Ba là, phải hết lòng kính mến Chúa, vì Chúa đã thương ta từ thuở đời đời, mà định sinh ra ta, chẳng những trong bậc tự nhiên kẻ làm người, song trong bậc kẻ làm con cái Chúa, là bậc cao trọng trổi xa hơn mọi quyền chức phẩm trật thế gian muôn phần. Ôi! ta có phước là dường nào! vì Cha ta là Đức Chúa Trời Ba Ngôi, sang trọng phép tắc vô cùng, là Vua cả cai trị trời đất. Vậy ta phải ra sức ăn ở tử tế nhơn đức, cho xứng đạo kẻ làm con cái Chúa cao trọng dường ấy.

8) Hỏi Đức Chúa Trời sinh ta làm chi?

Thưa. Đức Chúa Trời sinh ta cho đặng thờ phượng kính mến Người, hầu ngày sau hưởng phước đời đời.

Vì ý nào mà Đức Chúa Trời đã sinh dựng nên ta ở thế gian này?

Chúa sinh dựng nên ta vì hai ý này: 1. cho sáng danh Người là cho ta nhìn biết, kính mến cùng làm tôi Người ở đời này; 2. cho ta đặng rỗi linh hồn, là cho đời sau ta đặng thấy mặt Người ở trên trời, mà hưởng phước vui vẻ vô cùng.

Nhưng mà hai ý ấy hằng hiệp cùng nhau, như một ý vậy; vì chưng Đức Chúa Trời là Cha rất nhơn từ và tốt lành vô cùng, bởi có lòng thương ta là con cái Người, cho nên Chúa phân định, hễ sự gì làm sáng danh Người, cũng là chính sự làm cho ta đặng phước nữa. Vì vậy ta càng làm sáng danh Chúa bao nhiêu, thì ta càng đặng phước bấy nhiêu; lại ta càng đặng hưởng phước chừng nào, thì ta càng đặng làm sáng danh Chúa chừng ấy mà chớ.

Bây giờ ta phải suy những lời trước nầy có nghĩa làm sao. Đức Chúa Trời sinh ra ở đời 1° cho đặng thờ Chúa, là nhìn biết một mình Đức Chúa Trời là Đầu cội rễ cùng là Chủ cả mọi sự, nên ta phải kính chuộng Người trên hết mọi loài mọi vật thay thảy; 2° cho đặng thờ phượng Chúa, là phục tùng vâng lịnh Chúa, nắm giữ mọi điều Chúa răn cùng làm những việc thờ phượng Chúa, như đọc kinh, xem lễ cùng các việc lành khác; 3° cho đặng kính mến Người, là yêu mến kính chuộng Chúa trên hết mọi sự, sẵn lòng thà chết, mà chẳng thà phạm tội mất lòng Người; ấy là chính việc bổn phận rất cần ta phải làm ở đời nầy mà chớ; 4° hầu ngày sau đặng hưởng phước đời đời. Vì Chúa rất nhơn từ vô cùng sinh ra ta, có ý cho ta được sống lâu vui vẻ vô cùng vô tận ở trên nước Thiên đàng, làm một với Người đời đời. Ôi! Chúa thương ta là dường nào! Sao ta chẳng lấy lòng sốt sắng mà làm tôi tá Người, hầu ngày sau đặng thanh nhàn tư tại đời đời?

9) Hỏi. Đức Chúa Trời ra làm sao?

Thưa. Đức Chúa Trời là Đấng trọn tốt trọn lành, thiêng liêng sáng láng vô cùng.

Chúa có bổn tính thể nào?

Chúa có gồm hết mọi sự xinh tốt đẹp đẽ vô số, Chúa có đủ hết mọi giống phước đức vô ngần; Người vốn là Đấng thuần thần vô hình vô lượng, ngũ quan ta thấy chẳng đặng, biết chẳng đặng, lại là Đấng thông minh trí huệ khôn ngoan, hiểu thấu hết mọi sự khôn kể xiết, cùng hằng ở khắp mọi nơi.

— Tiếng trọn tốt vô cùng, nghĩa là ĐCT là Đấng xinh tốt cao trọng quá trí khôn lường, cùng là mạch và cội rễ mọi sự xinh tốt cao trọng trên trời dưới đất, trong Thiên thần và loài người ta, trong Đức Bà cùng tính người ta trong Đức Chúa Giêsu nữa. Đấng như vậy chẳng đáng cho ta yêu chuộng hơn mọi sự xinh tốt đẹp đẽ, cùng cao trọng sao?

— Tiếng trọn lành vô cùng, để chỉ Đức Chúa Trời là Đấng có gồm đủ mọi sự lành, mọi ơn phước đức thay thảy, cho nên Người là Đấng khôn ngoan vô cùng, lòng lành vô cùng, hay thương xót vô cùng, sạch sẽ vô cùng, thánh vô cùng và công bình vô lượng vô biên. Nói tắt một lời, Đức Chúa Trời là Đấng trọn lành trên hết mọi sự trọn lành, xinh tốt trên hết mọi sự xinh tốt, cao trọng trên hết mọi sự cao trọng, nhơn từ trên hết mọi sự nhơn từ, hay thương xót trên hết mọi sự thương xót, rộng rãi trên hết mọi sự rộng rãi, và công bình trên hết mọi sự công bình. Ôi! Đấng gồm đủ mọi sự trọn tốt trọn lành thế ấy, chẳng đáng cho ta kính mến Người hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự sao?

— Tiếng thiêng liêng, chẳng những chỉ vô hình vô tượng, con mắt cùng ngũ quan ta thấy chẳng đặng, biết chẳng đặng, song cũng chỉ Đấng có trí khôn biết suy xét, có lòng hay mến yêu, cùng thong dong thơ thới nữa. Và có ba đấng thiêng liêng là Đức Chúa Trời, Thiên thần cùng linh hồn người ta. Song sự thiêng liêng Đức Chúa Trời trổi xa hơn sự thiêng liêng Thiên thần cùng linh hồn người ta bội phần, vì Đức Chúa Trời là Đấng thiêng liêng vô cùng, là sự thiêng liêng tinh ròng, như lời Đức Chúa Giêsu phán rằng: « Đức Chúa Trời là Đấng thiêng liêng; » lại công luận chung Vaticanô rằng: « Hội thánh hằng tin Đức Chúa Trời là Đấng thiêng tinh ròng. » Còn sự thiêng liêng Thiên thần, và linh hồn ta là sự thiêng liêng Chúa dựng nên, và có cùng có hạn.

Hoặc có kẻ hỏi rằng: Ví bằng Đức Chúa Trời là Đấng thiêng liêng tinh ròng, nhơn sao Thánh kinh nói: Đức Chúa Trời có miệng, có con mắt, có chơn tay, có lỗ tai, vân vân? — Thánh kinh nói thể ấy mà giúp ta hiểu bổn tính Đức Chúa Trời một chút. Như nói Chúa có miệng lưỡi, mà chỉ Người soi sáng cho ta, như nói, phán cùng ta vậy; nói Chúa có con mắt, mà chỉ Người thấy ta tường tận; nói Chúa có lỗ tai, mà chỉ Chúa nghe hiểu thấu mọi sự ta nói, ta xin; lại nói Chúa có tay, để chỉ Người có phép tắc vô cùng, muốn làm sự gì, thì được sự ấy; nói Chúa có chơn, mà chỉ Người ở khắp mọi nơi. — Lại dầu Chúa là Đấng thiêng liêng, song muốn giúp ta hiểu biết Người, thì dùng hình họ hình kia mà vẽ tạc Người. Bởi đó vẽ hình Đức Chúa Cha như kẻ già cả cao niên, vì Sách Thánh gọi Người là Đấng Cố Cựu lâu đời; vẽ hình Đức Chúa Con như kẻ đang thì, vì Người đã xuống thế làm người, và khi chết, Người có tuổi bằng kẻ đang thì; sau nữa vẽ hình Đức Chúa Thánh Thần như chim bồ câu, vì đã lấy hình chim ấy mà đỗ trên đầu Đức Chúa Giêsu hồi Người chịu ông thánh Gioan rửa mình dưới sông Giudong.

— Tiếng sáng láng, chẳng những chỉ Đức Chúa Trời là sự sáng láng vô cùng quá hơn sự sáng mặt trời cùng các thánh ở trên Thiên đàng ngàn trùng, song cũng chỉ Đức Chúa Trời là Đấng thông suốt biết hết mọi sự thay thảy. Vậy Chúa thấu suốt 1° tính mình cùng mọi sự trọn lành mình; 2° Chúa biết mọi loài mọi vật đã có và đang có bây giờ, cùng sẽ có sau, hay là có lẽ mà có đặng nữa; 3° Chúa biết mọi sự tưởng lo, mọi lời nói, mọi việc làm các loài thay thảy; 4° Chúa thấy hết mọi sự sẽ có muôn đời sau thay thảy, chẳng có sự gì giấu đặng kín đáo trước mặt Người. Nói tắt một lời: Chúa biết rõ ràng mọi sự đã qua, mọi sự đang có bây giờ, và mọi sự sẽ có sau trên trời dưới đất, cũng như khi ta thấy đồng hồ, thì ta thấy một lượt những giờ đã qua rồi, và giờ nào có bây giờ, cùng mấy giờ sẽ đến, sẽ có sau nữa.

Vậy 1° bởi Đức Chúa Trời là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, nên ta phải kính mến yêu chuộng Người trên hết mọi sự, đến đỗi ta sẵn lòng chết trăm ngàn lần, chẳng thà phạm tội mất lòng Người; 2° bởi Chúa là Đấng thiêng liêng vô cùng, nên ta phải thờ phượng Người, nhứt là cách thiêng liêng bề trong, cùng yêu chuộng mọi việc lành thiêng liêng bề trong hơn mọi việc lành phần xác bề ngoài, vì chưng mọi việc bề ngoài được nên tốt lành, đẹp lòng Chúa, cùng đáng Chúa thưởng trên Thiên đàng, thì đều tại ý chỉ bề trong mà chớ; 3° bởi Chúa là Đấng thông minh sáng láng vô cùng, nên ta phải có lòng tin các sự mầu nhiệm Người đã khẳng tỏ ra cho ta, vì Đức Chúa Trời hiểu thấu đặng nhiều sự hơn ta bội phần, cùng làm được muôn việc hơn ta vô cùng.

10) Hỏi. Đức Chúa Trời ở đâu?

Thưa. Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi.

Chúa ở chỗ nào?

Chúa ở cùng mọi nơi mọi xứ một lượt, không có chỗ nào mà không có Chúa; Chúa ở trên trời dưới đất, ở trên Thiên đàng, ở dưới hỏa ngục, ở trong lừa luyện tội; ở trong, ở ngoài ta ngày đêm luôn luôn.

 

11) Hỏi. Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi, làm sao ta xem chẳng thấy?

Thưa. Vì Người là tính thiêng liêng, cho nên con mắt ta xem chẳng thấy.

Vì bằng có Chúa ở khắp mọi nơi, vì ý nào mà ta chẳng thấy Người?

Vì bằng Đức Chúa Trời có xác như ta, ắt là ta thấy Người đặng, cùng đá đến Người đặng; song bởi vì Người có tính thiêng liêng, vô hình vô tượng, không có xác, cho nên ngũ quan ta chẳng thấy, chẳng đá đến Người đặng. Nhưng mà thật Người ở gần ta; ta sống cùng lo tưởng nói làm trong Đức Chúa Trời Ba Ngôi luôn luôn.

 

12) Hỏi. Ta đã chẳng thấy Đức Chúa Trời, mà Người có thấy ta chăng?

Thưa. Người xem thấy tỏ tường, dầu những sự kín nhiệm trong lòng ta, thì Người cũng soi thấu nữa.

Dầu ta chẳng thấy đặng Chúa, mà Chúa có thấy ta chăng?

Chúa thấy ta rõ ràng lắm, chẳng những thấy mọi việc ta làm bề ngoài, mà lại những điều kín đáo khuất tịch, ta tưởng, muốn, ước ao trong lòng, thiên hạ không ai hay biết mặc lòng, song Chúa cũng thông hiểu biết hết nữa.

Sự năng nhờ Đức Chúa Trời hằng ở trước mặt ta sinh ra nhiều ích trọng lắm: 1° ngăn cấm kéo ta phạm tội làm mất lòng Chúa, như ông Giuse, bà Susanna bởi nhớ có Đức Chúa Trời ở trước mặt, thì chẳng hề nghe lời kẻ xấu dỗ dành mình phạm tội; 2° giục lòng ta ái mộ làm việc lành: giữ mình nết na, vì nhớ có Chúa coi ta luôn, cùng giục bảo ta cam lòng chịu gian nan lo buồn rủi ro, vì biết mình ở trong tay Đức Chúa Trời Ba Ngôi, lòng lành, khôn ngoan và phép tắc vô cùng, bằng yêu dấu ta quá trí khôn lường, cho nên ta phải phú mọi sự cho Người định liệu. — Các thánh Tổ tông xưa quen nhớ mình ở trước mặt Đức Chúa Trời, cho nên khi gặp sự gì, tức thì nói: «Chúa làm; «Chúa đề sự ấy xảy đến; ý Chúa muốn như vậy.»

13) Hỏi. Đức Chúa Trời mới có thuở nào?

Thưa. Người là Đấng tự hữu hằng có đời đời.

Chúa mới khỉ sự có hồi nào?

Chúa là Đấng có luôn, sống hoài, vì Người là Đấng vô tội vô chung, chẳng bao giờ mới khỉ sự có, cũng chẳng ngày nào sẽ ra không, một bằng sống, bằng trị, bằng thanh nhàn tự tại muôn kiếp chẳng cùng.

Tiếng tự hữu, nghĩa là, bởi mình mà có, chẳng phải hiểu rằng: Đức Chúa Trời đã dựng nên mình cho có đâu, song phải hiểu: Chúa có sự sống luôn trong mình, tự mình mà có, mà sống, chẳng ai đã dựng nên Người sốt.

Lại tiếng tự hữu xem ra như sự trọn lành đại cái Đức Chúa Trời, làm đầu các sự trọn lành khác. Vì chưng Đấng tự hữu, tự mình mà có, mà sống, thì phải là Đấng phép tắc vô cùng, làm đầu cội rễ hết mọi sự trên trời dưới đất, không ở dưới phép ai, không thuộc về ai, cho nên mình là Đấng thong dong thơ thời; có gồm đủ mọi sự trọn tốt trọn lành, cho nên mình là Đấng tự túc giàu có vô cùng, tư tại vinh phước vô lượng vô biên. Như không ai cho mình sự sống, thì cũng không ai cất sự sống mình đi đặng, cho nên hằng sống luôn, chẳng bao giờ chết, chẳng hề tàn bại, như lời Thánh Kinh rằng: « Lạy Chúa, từ thuở nguơn sanh Chúa đã dựng nên trời đất, và các từng trời cũng là việc tay Chúa dựng làm. — Các từng trời sẽ đổi tàn, mà Chúa hằng có luôn, lại các từng trời sẽ ra cũ như áo mặc vậy, Chúa sẽ đổi thay nó như áo rách vậy, thì nó phải thay đổi; mà Chúa là Đấng thường sinh, chẳng hề thay đổi, và tuổi Chúa là tuổi đời đời chẳng hề khuy khuyết. »

Vậy 1° ta phải vui mừng, vì Đức Chúa Trời là Đấng tự hữu hằng có đời đời, có đủ mọi sự tốt lành, có gồm các lẽ chơn thật, có hết mọi phước thanh nhàn tư tại đời đời. 2° Ta cũng phải mừng, vì ta đặng phước làm tôi, làm con cái Đấng rất sang trọng dường ấy, hằng sống hằng trị đời đời, mà coi sóc gìn giữ binh vực ta, cùng thương ta chẳng khi dừng. 3° Ta phải hạ mình xuống, nhìn biết ta là không, và cần phải nhờ Đức Chúa Trời, quá hơn phần xác phải nhờ linh hồn, thì mới đặng sống. 4° Ta phải kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, phải đặt Đức Chúa Trời làm Đấng thứ nhất trong hết mọi việc ta làm, và sẵn lòng thà chết, chẳng thà làm mất lòng Cha rất nhơn từ, cùng sang trọng phép tắc dường ấy. Lại ta phải chê ghét mọi sự đời tạm nầy, vì chưng hệ sự gì chẳng phải là sự đời đời, thì ta phải kể làm như không. Hãy bắt chước ông thánh Stanislao mà năng nói rằng: «Tôi sinh ra mà lo những sự đời, chẳng phải cho đặng lo về những vật hèn chóng qua đâu». 5° Ta phải năng gẫm về những sự trọn tốt trọn lành Đức Chúa Trời, ấy là sự có ít người làm lắm. Nhưng mà chẳng có sự gì làm cho ta hiểu biết Đức Chúa Trời là Đấng cao trọng và tốt lành đáng yêu chuộng trên hết mọi sự, cùng có sức làm cho ta ghét tội, ở khiêm nhượng, có lòng trông cậy Chúa, cho bằng năng nhớ đến những sự trọn lành vô cùng Đức Chúa Trời. Nhứt là phải lo in sự ấy vào lòng trí con trẻ, hãy còn sạch tội, còn mềm mỏng, như vậy nó đặng lòng kính mến Đức Chúa Trời cho sớm, cùng nhìn biết Chúa là Đấng cao trọng trên hết mọi sự.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

THÁNH GIÁO YẾU LÝ TAM GIẢI - TIỂU DẪN

CÁCH THẾ MÀ XƯNG RA MỌI ĐIỀU PHẢI TIN

III _ VỀ SỰ MẦU NHIỆM MỘT CHÚA BA NGÔI

MỘT ÍT LỜI SƠ VẤN

P1D2 - VỀ SỰ MẦU NHIỆM NGÔI THỨ HAI RA ĐỜI LÀM NGƯỜI

I _ VỀ ĐẠO THÁNH ĐỨC CHÚA TRỜI

IV _ ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT, THIÊN THẦN CÙNG LOÀI NGƯỜI TA

V _ TÓM LẠI SẤM TRUYỀN CŨ, TỪ TẠO THIÊN LẬP ĐỊA CHO ĐẾN CHÚA CỨU THẾ RA ĐỜI