IV _ ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT, THIÊN THẦN CÙNG LOÀI NGƯỜI TA
THÁNH GIÁO YẾU LÝ TAM GIẢI
PHẦN THỨ NHỨT
NHỮNG SỰ
PHẢI TIN
1.
— Phải tin có một Đức Chúa Trời, — mà có Ba
Ngôi, — đã dựng nên trời đất, Thiên thần cùng loài người ta.
2.
— Phải tin Ngôi thứ Hai đã xuống thế làm người,
— chịu nạn chịu chết vì tội loài người ta.
3.
— Phải tin những sự sau hết loài người ta, là sự
Chết, Phán xét, Thiên đàng, Hỏa ngục, gọi là Tứ chung.
BỔN NGHĨA
THIÊN CHÚA NHỨT THỂ TAM VỊ, ĐỆ NHỨT
THIÊN. (*)
CHÍNH NGHĨA
ĐOẠN THỨ NHỨT. ĐẠO THÁNH DẠY TA TIN CÓ MỘT
ĐỨC CHÚA TRỜI, — BA NGÔI. — ĐÃ DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT, THIÊN THẦN CÙNG LOÀI NGƯỜI
TA.
IV. — ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT, THIÊN THẦN CÙNG LOÀI NGƯỜI TA
*Hỏi. Thế gian nầy đã có từ thuở đời đời chăng?
Thưa. Không, song thiên địa hải hà cùng mọi sự trong ấy mới
có sáu ngàn năm nay. Chính thật có một mình Đức Chúa Trời là Đấng tự hữu hằng
có đời đời mà thôi; song bởi Chúa tốt lành vô cùng, muốn thông sự lành mình cho
mọi loài đặng nhờ, thì đã dựng nên trời đất. Thiên thần cùng loài người ta, và
đã làm mọi sự hoàn tất trong sáu ngày.
Ngày thứ nhất. Chúa dựng nên sự sáng, và rẽ ra khỏi tối
tăm.
Ngày thứ hai. Chúa làm cao thiên bền chặt vững vàng gọi là
trời.
Ngày thứ ba. Chúa phân nước ra khỏi đất, mà cho ở một chỗ,
gọi là biển; cùng dạy đất sinh ra thảo mộc hoa quả.
Ngày thứ bốn. Đức Chúa Trời dựng nên mặt trời, mặt trăng
cùng các ngôi sao, lại đặt ở mọi từng trời, có thứ tự lớp lang, để soi sáng
ngày đêm, phân có năm, tháng, ngày giờ, bốn mùa, tám tiết, xảy đi vần lại thật
chừng.
Ngày thứ năm. Đức Chúa Trời dạy nước sinh ra các loài tôm
cá lội dưới sông biển, cùng sinh ra các thứ chim bay trên không, cùng dạy nó cứ
theo loài mình mà sinh sản ra nhau luôn.
Ngày thứ sáu. Đức Chúa Trời sinh ra các giống tẩu thú lục
súc côn trùng, cùng dạy nó nối nhau mà sinh sản ra luôn ở thế gian nầy. Cũng một
ngày ấy Đức Chúa Trời dựng nên loài người ta, để làm vua cai trị mọi loài mọi vật
khác. Đức Chúa Trời như Cha rất nhơn từ lập luôn vườn tược, cất nhà cửa cho con
rồi, mới đem con về ở; bởi đó Chúa dựng nên loài người ta sau rốt mà thôi.
Ngày thứ bảy. Chúa nghỉ, là thôi dựng nên, cùng dạy người
ta phải bắt chước mình, mà chuyên việc bổn phận làm lụng trong sáu ngày, còn
ngày thứ bảy phải nghỉ rảnh rang việc phần xác, cho dễ lo việc thờ phượng Chúa.
Đến sau các thánh Tông đồ đổi nghỉ ngày thứ bảy, mà dạy phải nghỉ ngày Chúa nhựt,
nghĩa là, ngày của Chúa, để cảm tạ đội ơn Đức Chúa Trời vì ba ơn rất trọng nầy:
một là, đã dựng nên trời đất vì ta, trong ngày thứ nhứt; hai là, Đức Chúa Giêsu
đã sống lại vì ta nhằm ngày Chúa nhựt; ba là, Đức Chúa Thánh Thần đã xuống trên
các thánh Tông đồ ngày Chúa nhựt mà lập Hội thánh.
20) Hỏi. Đức Chúa Trời đã sinh ra loài nào trọng hơn?
Thưa. Đức Chúa Trời đã sinh ra hai loài trọng hơn, một là
Thiên thần, hai là Người ta.
Trong mọi loài Chúa đã dựng nên, loài nào cao cả, sang trọng,
tốt lành hơn?
Có hai loài cao cả, sang trọng, tốt lành hơn mọi loài
khác, là Thiên thần cùng loài Người ta, vì hai loài ấy có trí khôn, biết suy
xét lẽ, có lòng hay mến yêu sự lành, cùng thong dong thơ thời, biết chọn lựa sự
nầy sự kia mặc thừa ý mình.
21) Hỏi. Thiên thần là đấng nào?
Thưa. Thiên thần là đấng thiêng liêng. Đức Chúa Trời dựng
nên mà chầu chực Người, và hưởng phước đời đời.
Thiên thần là loài nào?
Là loài thọ sinh vô hình vô tượng, không có phần xác, song
có trí khôn sáng láng hơn loài người ta. Đức Chúa Trời đã dựng nên nhiều vô số,
cho đặng nhìn biết, kinh mến, thờ phượng, hầu hạ Chúa, cho được hưởng phước
thanh nhàn vui vẻ vô cùng ở trên nước thiên đàng.
Tiếng Thiên thần, nghĩa là, loài thêng liêng ở trên trời;
Cælestes spiritus; tiếng ấy để chỉ bổn tính Thiên thần khác xa người ta, vì là
loài thiêng liêng tinh ròng, chẳng có phần xác. Còn khi nào Đức Chúa Trời sai
Thiên thần đi làm việc gì, hoặc là đem tin gì, hay là giữ gìn người ta, thì gọi
là Angeli, nghĩa là khâm sai, thiên sứ, thần sứ, sứ trời. Vậy hết thảy các
Thiên thần chia ra làm ba phẩm, mỗi phẩm có ba hội, hay là ba bậc; song thường
kêu là chín phẩm Thiên thần: 1° XÊRAPHM = Đầy lửa sốt sáng; 2° KÊRUBIM = Thông
minh; 3° THRONI = Ngai; 4° DOMINATIONES = Làm chủ; 5° PRICIPATUS = Cai trị; 6°
POTESTATES = Quyền phép; 7° VIRTUTES = Phép tắc; 8° ARCHANGELI = Tổng lãnh
thiên thần; 9° ANGELI = Khâm sai, Thiên sứ, Thần sứ, thường gọi là Thiên thần.
— Sách Thánh có kể lại bốn tên Thiên thần: 1° Luxiphe, là nhứt phẩm làm đầu cai
các Thiên thần khác, song bởi nó kiêu ngạo muốn lên bằng Đức Chúa Trời, thì
Chúa đã cất chức nó, cùng phạt nó sa xuống hỏa ngục, làm quỉ chúa đàng; 2°
Micae, nghĩa là, ai bằng Đức Chúa Trời, là đấng đã thắng trận thằng Luxiphe, và
đặng Đức Chúa Trời đặt lên làm tổng thống đạo binh thiên quốc, làm đầu cai các
Thiên thần khác, thế lại thằng Luxiphe; 3° Gabirie, nghĩa là, sức mạnh Đức Chúa
Trời, là đấng Chúa sai truyền sự mầu nhiệm Ngôi Hai ra đời, mà đánh phá mọi
phép ma quỉ; 4° Raphae, nghĩa là, linh dược Đức Chúa Trời, vì đã chữa ông Tôbia
xưa cho khỏi tối mắt.
22) Hỏi. Hết thảy các Thiên thần có đặng hưởng phước đời đời
chăng?
Thưa. Chẳng đặng, vì có kẻ phạm tội kiêu ngạo, nên Đức
Chúa Trời phạt nó trong hỏa ngục, gọi là ma quỉ.
Các Thiên thần có đặng lên thiên đàng, mà hưởng phước
thanh nhàn hết thảy chăng?
Không đặng lên hết, vì trong ba phần có một phần phạm tội
kiêu ngạo cãi lịnh Chúa, muốn lên bằng bậc Đức Chúa Trời, theo thằng Luxiphe
làm đầu, cho nên Chúa liền phạt quân ấy xuống hỏa ngục, chịu lửa thiêu đốt đời
đời kiếp kiếp. Thường gọi những thần ngụy tặc ấy là ma quỉ, hoặc thần dữ, tinh
yêu, là những số hay làm hại, cảm dỗ, lường gạt người ta sa phạm tội, hần chịu
phạt làm một với nó.
23) Hỏi. Các Thiên thần đặng nghĩa cùng Chúa bây giờ ở
đâu?
Thưa. Các đấng ấy đang hưởng phước đời đời trên thiên
đàng.
Những thần lành chẳng hề lỗi nghĩa cùng Đức Chúa Trời, thì
Chúa thưởng cho ở chốn nào?
Bởi chưng các đấng ấy theo tổng lãnh Thiên thần Micae làm
đầu, bằng ở khiêm nhượng vâng phục Chúa luôn, nên đặng Chúa thưởng cho lên
thiên đàng, mà hưởng phước vui vẻ vô cùng.
24) Hỏi. Các Thiên thần có giúp người ta chăng?
Thưa. Mỗi người có một Thiên thần gìn giữ mình; nên ta phải
tin cậy và tôn kính người lắm.
Các Thiên thần lành có làm sự gì mà giúp chúng ta chăng?
Có: 1° các đấng ấy giúp đỡ người ta cách chung nhiều cách
nhiều đàng; 2° giúp đỡ mọi người cách riêng, là gìn giữ mỗi một người, từ khi lọt
ra khỏi lòng mẹ cho đến chết, bằng binh vực, soi sáng ta, chuyển cần cho ta chẳng
khi đừng; nên ta phải hết lòng; 1° tin kính; 2° trông cậy; 3° yêu mến; 4° bắt
chước người mọi đàng.
I. — Các đấng Thiên thần giúp người ta cách chung, là:
1° dâng cho Đức Chúa Trời mọi lời ta cầu xin, mọi việc lành ta làm, và chuyển cầu
cho ta nữa; 2° truyền lệnh Chúa cho người ta; 3° gìn giữ Hội thánh cùng binh vực
các giáo hữu.
II. — Các đấng ấy giúp người ta cách riêng, là Chúa cho mỗi
người có một Thiên thần mà gìn giữ ta, từ ngày sinh cho đến chết: nên ta phải đội
ơn Chúa, cùng làm bốn sự nầy mà tôn kính Thiên thần giữ mình: 1° tin vững vàng
có người hằng ở với ta, nên chớ dám làm trước mặt người những sự trái lẽ; 2°
trông cậy người, năng chạy đến xin người soi sáng, cứu giúp, nhứt là khi bị cám
dỗ; 3° kính mến người, năng nói khó với người; 4° bắt chước người mà ăn ở sạch
sẽ, khiêm nhượng, nhịn nhục, hiền lành, yêu người, chịu lụy cùng sốt sắng kính
mến Đức Chúa Trời. — Truyện Thiên thần Raphae dẫn đàng cho ông Tôbia, là hình
bóng chỉ những ơn Thiên thần làm cho ta, cùng dạy ta bắt chước ông Tôbia mà tôn
kính, tin cậy Thiên thần giữ mình ta.
*Hỏi. Loài người ta là ai?
Thưa. Là loài có xác, có linh hồn, có trí khôn biết suy
lẽ, có lòng biết mến yêu sự lành, và thong dong biết chọn việc gì mặc thửa ý
mình, Đức Chúa Trời đã dựng nên mà nhìn biết, thờ phượng Chúa ở đời nầy cho
nên, hầu ngày sau đặng lên thiên đàng mà hưởng phước đời, như các thánh Thiên
thần. Vì vậy loài người ta giống như Thiên thần về phần linh hồn, còn về phần
xác thì giống như loài vật khác. Nhưng vậy phần xác người ta thì trọng hơn loài
vật, vì Chúa dựng nên xác dễ hiệp cùng linh hồn, mà làm sự lành hay là làm sự dữ,
cho ngày sau đặng hưởng phước cùng nhau, hay là sẽ chịu phạt cùng nhau đời đời.
Song loài người ta trổi xa hơn loài vật, nhứt là về phần linh hồn, vì có trí
khôn biết xét lẽ, có lòng biết yêu mến, và thong dong biết chọn việc mà làm, lại
hằng sống luôn, chẳng hề tàn mạt.
Loài người ta nên giống hình ảnh Chúa thể nào? — Loài người
ta nên giống hình ảnh Đức Chúa Trời vì bảy lẽ nầy: 1° Linh hồn ta có tính
thiêng liêng, con mắt phần xác thấy chẳng đặng, như Đức Chúa Trời, lại ở trót hết
trong xác, cùng trong mỗi phần xác, như Đức Chúa Trời ngự trót trong cả và thế
gian, cùng trong mọi nơi mọi chỗ cả và thế gian nữa. 2° Linh hồn ta hằng sống,
chẳng hay chết, chẳng hay hư nát giống như Chúa. 3° Có trí khôn, biết suy xét
hiểu biết sự chơn thật như Đức Chúa Trời. 4° Thong dong thơ thời, muốn chọn sự
nầy sự khác, mặc ý mình như Đức Chúa Trời. 5° Có lòng hay yêu sự lành, chuộng
đàng phước đức, mến điều nhơn ngãi. 6° Có sức hưởng nhờ Đức Chúa Trời, cho nên
có một mình Đức Chúa Trời làm cho lòng ta phỉ tình phỉ dạ mà thôi. 7° Dầu linh
hồn ta có một, song có trí nhớ, trí hiểu, ý muốn khác nhau, mà ba tài ấy làm một
linh hồn; cũng như Đức Chúa Trời có một tính một phép mà thôi, song có Ba Ngôi
khác nhau, mà Ba Ngôi ấy là một Chúa, chẳng phải là nhiều Chúa đâu.
25, Hỏi. Tổ tông loài người ta là ai?
Thưa. Tổ tông loài người là ông Adong và bà Evà.
Kẻ làm đầu sinh sản ra loài người ta là ai?
Là ông Adong và bà Evà, Đức Chúa Trời đã dựng nên làm đầu,
mà sinh sản cả và loài người ta.
Đức Chúa Trời đã dựng nên nguồn tổ loài người ta làm
sao? — Chúa lấy đất nắn xác người nam tốt lành, đoạn Chúa dựng nên linh hồn
thiêng liêng hằng sống, mà cho hiệp cùng xác ấy, liền nên một người xinh tốt đẹp
đẽ, cùng đặt tên là Adong. Đoạn Đức Chúa Trời khiến ông ấy ngủ, và đang khi ngủ,
Chúa lấy một cái xương sườn người, mà tạc xác người nữ, đoạn dựng nên một linh
hồn, và cho hiệp cùng xác ấy, mà nên một người nữ mĩ miều, và đặt tên là Evà.
Chúa cho hai người ấy làm bạn cùng nhau, mà sinh ra con cháu ở thế gian này cho
đến tận thế. Đó là hai ông bà nguồn tổ loài người ta; cả và thiên hạ đều bởi gốc
một ông bà ấy mà sinh ra, cho nên mọi người là anh em cùng nhau: tứ hải giai
huynh đệ.
Ví bằng Đức Chúa Trời muốn dựng loài người ta trong bậc tự
nhiên, cùng cho hưởng phước theo bậc ấy luôn, thì cũng đặng. Song bởi Chúa lòng
lành nhơn từ, và rộng rãi vô cùng, cho nên đã khấng nhắc loài người ta lên bậc
rất cao trọng trổi tính, mà làm con cái Chúa, và ngày sau được xem thấy Đức
Chúa Trời tỏ tường, mà hưởng phước đời đời. Nhơn vì sự ấy Chúa ban thêm nhiều
ơn quyền trọng khác, mà trau giồi linh hồn và xác loài người ta cho xứng đáng bậc
cực trọng ấy.
Chúa ban thêm những ơn nào cho tổ tông loài người ta? —
Chúa ban thêm hai giống ơn này: một là, những ơn trổi tính; hai là, những ơn trổi
cách. Những ơn trổi tính là 1° thuở nguồn sinh đặng vẹn sạch tội lỗi, đặng ơn
nghĩa cùng Chúa, là đặng thông công bổn tính Đức Chúa Trời; 2° ngày sau đặng sự
sáng vinh hiền mà xem thấy Đức Chúa Trời trên Thiên đàng. Gọi những ơn ấy là ơn
trổi tính, nghĩa là, quá sức loài thọ sinh trên bậc tự nhiên, Chúa ban bởi lòng
rộng rãi, chẳng phải là nợ Chúa mắc với loài người ta đâu. — Còn những ơn trổi
cách, là ơn vốn tự nhiên, song xét theo cách ban, hay là kẻ đặng ơn ấy, thì là
điều quá sức loài thọ sinh. Có năm ơn trổi cách, là 1° ơn thông minh trí huệ xứng
đáng bậc mình; 2° đặng khỏi tình tư dục, là xác thịt vâng phép linh hồn, mà
linh hồn hằng vâng phục Chúa; 3° đặng khỏi chết phần xác; đến kỳ Chúa định, thì
linh hồn và xác lên Thiên đàng; 4° đặng sung sướng, khỏi bịnh hoạn, khỏi gian
nan cực khổ, nóng nực giá rét; 5° đặng làm vua cai trị mọi loài mọi vật, mà nó
vâng phục mình mọi đàng. Ấy là những ơn Chúa ban, mà làm cho số phận tổ tông ta
đặng tinh toàn trọn hảo, cho xứng bậc cao trọng mình. Gọi hai thứ ơn ấy là ơn
nguyên tổ, nghĩa là, ơn đầu Chúa ban cho tổ tông loài người ta, như mạch, như
suối chảy ra cho con cháu đặng nhờ như tổ tông mình vậy. Vì chưng Đức Chúa Trời
đã đặt ông Adong làm đầu cả và loài người ta, cho nên vì bằng người ở chí tín
cùng Chúa, thì người đặng phép truyền những ơn đầu ấy cho các con cháu mình nữa.
26) Hỏi. Ông Adong, bà Evà có giữ nghĩa cùng Đức Chúa Trời
chăng?
Thưa. Chẳng giữ, cho nên nếu chẳng có công nghiệp Chúa Cứu
thế, thì cả và loài người ta đã phải khốn nạn đời đời.
Hai ông bà có giữ ơn phước ấy luôn chăng?
Không giữ luôn, vì ông Adong đã cả lòng nghe theo lời bà
Evà, mà phạm tội ăn trái Chúa cấm. Vậy bởi đã phạm tội cực trọng làm vậy, liền
mất ơn nghĩa Chúa cùng các phước khác, và làm hại mình cùng cả và loài người ta
phải khốn. Lại vì bằng Đức Chúa Giêsu chẳng có ra đời mà cứu chuộc mình, thì
mình cùng cả và thiên hạ phải khốn nạn chịu phạt vô cùng.
Vậy bởi tổ tông ta đã trở lòng ngỗ nghịch cùng Đức Chúa
Trời thế ấy, thì người đã mất hết mọi ơn trổi tính, cùng những ơn trổi cách, là
những ơn Chúa ban thêm bởi lòng rộng rãi, như ta đã nói trước nãy, song chẳng mất
những ơn tự nhiên, cho nên còn có trí khôn biết phân lành dữ, có lòng biết mến
yêu sự lành, cùng thong dong, và làm chủ ý mình. Ông Adong lại mất chức làm đầu
loài người ta, cho nên dầu mà sau người đã ăn năn tội, đã đặng ơn nghĩa lại mặc
lòng, thì người chẳng có phép mà truyền ơn nghĩa ấy cho con cháu, vì Đức Chúa
Trời đã định một Đấng khác, là Đức Chúa Giêsu sẽ thế lấy người, mà làm đầu cả
và thiên hạ, hầu chuộc lại ơn nghĩa cùng các ơn giúp, cho người ta đặng rỗi linh
hồn.
Nhưng mà tội ông Adong phạm, chẳng những làm hại một mình
ông ấy, mà lại cũng làm hại mọi người ta thay thảy nữa. Vì vậy mọi người sinh
ra ở thế đều mắc tội tổ tông, trừ ra một mình Đức Bà Maria chẳng hề vướng lấy tội
ấy bao giờ sốt, ấy là hai điều ta phải tin cho vững vàng, chẳng nên hồ nghi
chút nào.
Mà người ta mắc tội tổ tông truyền thế nào? — Là mọi người
khi mới thọ sinh trong lòng mẹ, thì phần hồn mất ơn nghĩa cùng Chúa, mất nước
thiên đàng, phải ở dưới phép ma quỉ; lại trí khôn ra mê muội tối tăm, khó biết
sự thật, dễ sai lầm; lòng ra yếu đuối, hay chịu theo sự dữ, ưa những sự đời tạm
này quá lẽ, cùng bị tình tư dục kéo mình theo những sự vui giả hư hèn. Còn phần
xác phải lao đao cực khổ, bịnh hoạn tật nguyền, rồi sau phải chết ra tro mạt. Ấy
là những sự dữ bởi tội tổ tông mà ra, cùng làm cho mọi người phải khốn nạn thì
làm vậy.
Vã loài người ta đã trở lòng ngụy cùng Đức Chúa Trời,
như thần dữ, cho nên lẽ thì cũng đáng cho Chúa bỏ mình cùng phạt mình đời đời,
như đã phạt ma quỉ. Nhưng mà Chúa lòng lành vô cùng, chẳng nỡ bỏ cả và loài người
ta vì tội một người làm đầu đã phạm; cho nên khi ông Adong và bà Evà phạm tội
đoạn, Chúa liền hiện đến mà quở cùng phạt hai ông bà, song cũng một trật ấy
Chúa phán hứa ngày sau sẽ sai một Đấng Cứu thế đến, mà chuộc lại loài người ta
cho đặng rỗi. Hai ông bà nghe tin ấy thì mừng lắm, và lưu truyền cho con cháu
phải trông đợi Đấng Cứu thế ấy, cùng cậy nhờ công nghiệp vô cùng Người sẽ cứu lấy
mình cho khỏi tội, và cho mình đặng rỗi. Ấy vậy những kẻ sống trước Chúa ra đời,
hễ ai có lòng tin cậy công nghiệp Đức Chúa Giêsu, thì đặng khỏi tội, khỏi sa hỏa
ngục; chết rồi xuống ngục Tồ tông, ở đó trông đợi Chúa Cứu thế ra đời mà cứu lấy
mình, cùng đem mình về nước thiên đàng. Vã từ khi Đức Chúa Trời phán hứa làm vậy,
cho đến khi Đức Chúa Giêsu ra đời, thì kể đặng chừng bốn ngàn năm.
Vậy 1° ta phải sợ phép công bình Đức Chúa Trời, và chê
ghét tội trọng trên hết mọi sự ghét, vì nó làm cho Đức Chúa Trời là Đấng nhơn từ
vô cùng, phải dùng phép công thẳng mà phạt loài người ta phải trăm ngàn sự dữ
là thể nào. 2° Phải ở khiêm nhượng, nhìn biết ta là phi trần xấu xa. 3° Phải cảm
tạ đội ơn Chúa, vì cho ta sinh ra trong Hội thánh, đặng chịu phép Rửa tội, cho
khỏi tội tồ tông, đặng làm con Chúa, đặng trông lên nước thiên đàng. 4° Phải
tôn kính rất thánh Đức Bà Maria, chẳng hề mắc tội tồ tông cách riêng, vì Chúa
đã phán hứa Đức Mẹ ngày sau sẽ giày đạp đầu con rắn, là đặng khỏi tội tổ tông,
như đạp đầu ma quỉ ở dưới chơn mình vậy.
Nhận xét
Đăng nhận xét