V _ TÓM LẠI SẤM TRUYỀN CŨ, TỪ TẠO THIÊN LẬP ĐỊA CHO ĐẾN CHÚA CỨU THẾ RA ĐỜI

THÁNH GIÁO YẾU LÝ TAM GIẢI

PHẦN THỨ NHỨT

NHỮNG SỰ PHẢI TIN

1.      — Phải tin có một Đức Chúa Trời, — mà có Ba Ngôi, — đã dựng nên trời đất, Thiên thần cùng loài người ta.

2.      — Phải tin Ngôi thứ Hai đã xuống thế làm người, — chịu nạn chịu chết vì tội loài người ta.

3.      — Phải tin những sự sau hết loài người ta, là sự Chết, Phán xét, Thiên đàng, Hỏa ngục, gọi là Tứ chung.

 

BỔN NGHĨA

THIÊN CHÚA NHỨT THỂ TAM VỊ, ĐỆ NHỨT THIÊN. (*)

CHÍNH NGHĨA

ĐOẠN THỨ NHỨT. ĐẠO THÁNH DẠY TA TIN CÓ MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI, — BA NGÔI. — ĐÃ DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT, THIÊN THẦN CÙNG LOÀI NGƯỜI TA.

 

V _ TÓM LẠI SẤM TRUYỀN CŨ, TỪ TẠO THIÊN LẬP ĐỊA CHO ĐẾN CHÚA CỨU THẾ RA ĐỜI

1° — Thuở đầu trước hết mọi sự, có một mình Đức Chúa Trời là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, tư tại vinh phước hằng có đời đời. Vậy bởi Chúa muốn thông ra sự lành mình cho mọi loài mọi vật đặng hưởng nhờ, thì đã dựng nên trời đất muôn vật trong sáu ngày. Người nguyên tổ loài người ta, là ông Adong cùng bà Evà; Chúa đã để hai ông bà ở trong chốn địa đàng, và hứa, bằng hai người ấy ở cho chỉ tín trung thành, thì sẽ ban cho đặng hưởng phước lộc tuyền vẹn ở đời này và đời sau, lại đặng phép lưu truyền phước ấy cho thiên hạ nữa. Mà phước trọng ấy là linh hồn đặng ơn nghĩa Chúa hóa nên nhơn đức cùng đẹp lòng Chúa mọi đàng. Còn phần xác được sung sướng khoái lạc vô hồi; những loài thú vật phục tuân mình hết; lại khỏi bịnh hoạn cùng khỏi chết; đến kỳ Chúa định, thì hồn xác lên thiên đàng, mà hưởng phước vui vẻ đời đời. Song hai ông bà đã cãi lịnh Chúa răn mà ăn trái cấm; liền mất ơn nghĩa Chúa; hóa ra tôi tá ma quỉ; mà bởi bội ngãi vong ân như vậy, nên đã phải xua đuổi ra khỏi vườn địa đàng, cùng bị án Chúa phạt mình cùng con cháu hết thảy, sống thì gian nan cực khổ, rồi lại phải chết, và phải trầm luân khốn nạn.

Tuy tội đã dĩ lỡ ra rồi, song Đức Chúa Trời lòng lành vô cùng phán hứa ngày sau sẽ ban một Đấng Cứu chuộc ra đời, mà đền tội cho hai ông bà cùng cả và thiên hạ, lại sẽ mở cửa nước thiên đàng ra cho mà vào. Vậy thiên hạ hằng trong đợi Đấng ấy hơn bốn ngàn năm, mà bởi cậy tin Đấng này và nhờ công nghiệp Người, thì hai ông bà cùng con cháu mới đặng rỗi; song khi chết rồi, phải xuống ngục Tổ tông, đợi ngày sau Đấng này ra đời xuống cứu lấy mình, mà đem lên nước Thiên đàng.

Khi ông Adong và bà Evà phải đuổi ra khỏi vườn địa đàng, thì sinh đặng ba người con trai, là Cain, ông Abélê và ông Sét; con gái thì nhiều. Ông Adong sống đặng chín trăm ba mươi tuổi mới chết. Và thằng Cain tội lỗi Chúa không nhìn đến; nó thấy Đức Chúa Trời thương ông Abélê, vì là kẻ nhơn đức nên nó ghét mà giết em đi. Đức Chúa Trời liền phạt nó phải đi bình bồng khắp xứ, và đào tị mọi nơi.

Vậy ông Abélê chết sớm, không có con cháu nối dòng, còn thằng Cain sinh ra con cháu đông, mà tội lỗi xấu xa.

Ông Sét sinh ra con cháu cũng nhiều, thường giữ đạo đức, mà cũng có nhiều kẻ bắt chước nết hư thói xấu con cháu thằng Cain, nên Đức Chúa Trời định để một nhánh đạo đức về dòng ông Sét lại mà thôi, còn mấy nhánh khác Người định làm lụt cả mà phá đi cho tận tuyệt.

2° — Vậy Đức Chúa Trời dạy ông Noe, là dòng dõi đạo đức ông Sét, đóng một chiếc tàu một trăm năm mới rồi, để đến ngày lụt cả mà chở mình cùng vợ con mình, và các loài cầm thú mỗi giống mỗi đôi cho sống. — Vậy từ tạo thiên lập địa cho đến 1500 năm, Đức Chúa Trời liền cho mưa lớn bởi trời sa xuống trong bốn mươi đêm ngày, lút đảnh núi cao mười lăm thước, nên cả và loài người ta cùng muông chim thú vật đều chết hết, còn sống nội nhà ông Noe là tám người, với các loài vật ở trong tàu mà thôi. — Khi hết lụt, ông Noe và vợ con cùng các loài vật ra khỏi tàu mới lên bờ; ông Noe làm một bàn thờ mà tế lễ tạ ơn Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời làm phép lành cho cả và nhà ông Noe mà phán rằng: « Bay hãy sinh sản ra cho « nhiều, mà nối nhau ở thế này, lại từ này về sau « Tao chẳng còn làm lụt lớn mà hủy hoại loài « người ta nữa; và Tao ban phép cho ăn thịt các « giống loài vật. »

Vã ông Noe có ba con trai, là ông Xem, Cam và Giaphét; ấy là ba người làm đầu lập lại loài người ta ở thế gian này. Cam vô phép lỗi nghĩa cùng ông Noe, nên ông ấy chúc dữ cho nó, và dòng dõi nó phải làm tôi tá khốn nạn; còn ông Xem và Giaphét thì ông Noe chúc cho mọi sự lành. Ông Noe sống đến chín trăm năm mươi tuổi mới chết.

Khi ông Noe qua đời rồi, con cháu ông sinh ra đông nhiều, mà cũng còn phạm tội lỗi, không sợ phép Chúa phạt nặng nề. Nó rủ nhau xây tháp Babel cho cao tận trời. Khi xây đến nửa chừng, Đức Chúa Trời thấy nó không tin lời Người phán hứa, bèn phạt nó hóa ra nhiều tiếng nói, không còn hiểu nhau đặng, nên phải bỏ việc, liền phân nhau đi ở khắp thế gian. Từ ấy về sau thiên hạ đua nhau thờ lạy ma quỉ bụt thần chẳng còn nhìn biết Đức Chúa Trời mà thờ phượng Người, lại ít giữ lẽ cang thường.

3° — Còn có một mình ông Abaraham hằng giữ đạo chánh mà thôi, cho nên Đức Chúa Trời chọn người làm đầu dòng thánh, là từ tạo thiên lập địa cho đến khi ấy chừng 2000 năm, và đặt người làm tổ tông dân riêng Chúa chọn, trước gọi là dân Isarae, sau gọi là dân Giudêu. Lại Chúa có ý chọn dòng ông Abaraham làm dân riêng, mà giữ lấy đạo Chúa truyền, và phán hứa ngày sau Chúa Cứu thế sẽ sinh ra bởi dòng ấy, mà Cứu chuộc loài người, như lời Người đã phán hứa cùng ông Adong xưa.

Thuở ấy Đức Chúa Trời dạy ông Abaraham bỏ đất Caladêa, là quê quán xứ sở mình, mà đi ở đất Canaan, là đất Đức Chúa Trời hứa cho người ở, sau kêu là xứ Palestina, hoặc nước Giudêu, hay là Thánh Địa. — Nhưng mà ông Abaraham ở với bà Sara lâu năm mà chẳng sinh đặng con nối dòng; song Đức Chúa Trời phán hứa người sẽ sinh ra một đứa con trai, làm đầu dòng dõi đông lắm như sao ở trên trời vậy. Ông Abaraham tin lời Chúa phán, và hẳn thật đã sinh đặng một con trai đặt tên là Igiác. Khi ông Igiác khôn lớn, Đức Chúa Trời muốn thử lòng ông Abaraham, coi có tin cậy mình chăng, liền dạy ông ấy đem con đi giết trên núi kia, mà tế lễ cho mình. Ông Abaraham chẳng chút dụ dự, liền bảo ông Igiác vác củi, còn người tay xách gươm, tay cầm lửa. Khi đến chốn Đức Chúa Trời đã chỉ, vừa giơ gươm lên giết con mà tế lễ, thì Thiên thần cầm gươm lại, không cho chém xuống mà nói rằng: « Đức Chúa Trời đã biết ông « có lòng tin cậy kính mến Người thì thôi; hãy « bắt con chiên đương vướng dây trong bụi kia, mà « tế lễ cho Chúa thay vì con. » — Abaraham sống đặng một trăm bảy mươi lăm tuổi mới chết.

Đến sau ông Igiác làm bạn với bà Rêbêca, sinh đặng hai con trai là Êdau và Giacóp. Bữa kia ông Giacóp nấu cháo đậu, Êdau đi săn về mệt mỏi lắm, xin em một bát cháo. Ông Giacóp liền giao rằng: « Anh muốn ăn cháo tôi, thì anh nhường « chức trưởng nam cho tôi, thì tôi mới cho.» Êdau ưng, chịu bán chức trưởng nam cho đặng một bát cháo. Vậy ông Giacóp đặng quyền trưởng nam, nên ông Igiác chúc cho người mọi sự lành, và Đức Chúa Trời phán hứa con cháu người ngày sau sinh ra nhiều như bụi đất, lại Đấng Cứu thế sẽ sinh ra bởi dòng dõi người. Ông Igiác sống đặng một trăm tám mươi tuổi mới chết.

Vã ông Giacóp sinh đặng mười hai người con trai là Ruben, Siméon, Lévi, Giuda, Đan, Néthali, Gát, Ade, Idaca, Dabulon, Giuse và Bendaminh. Mười hai người ấy làm đầu dòng dõi dân Giudéu, mà ngày sau Chúa Cứu thế sinh ra bởi dòng dõi thứ bốn, là dòng ông Giuda.

Trong mười hai con, có ông Giuse nét na đạo đức, nên ông Giacóp thương yêu; các anh thấy vậy ghen ghét, liền bán người sang nước Égyptô, làm tôi tá hèn hạ. Ai ngờ Đức Chúa Trời phù hộ người khỏi làm tôi tá, mà đặng làm quan nhứt phầm trong nước ấy. — Chẳng khỏi mấy năm mất mùa đói khát, các anh người phải qua nước Égyptô mà mua lúa ăn. Người nhìn biết các anh, thì biểu về, đem ông già với bà con hết thảy là bảy mươi người qua ở với người. Ông Giacóp ở an trong nước Égyptô đặng mười bảy năm, sống một trăm bốn mươi bảy tuổi mới chết. Ông Giuse đem xác cha về đất Canaan, mà chôn gần mồ ông Abaraham, theo như lời cha đã trối. — Ông Giuse làm phó quân trị nước Égyptô đặng tám mươi năm, sống đến một trăm mười tuổi mới chết.

Khi ông Giuse chết đoạn, thì vua khác lên trị vì, chẳng còn nghĩ đến công nghiệp ông Giuse, mà thương đến con cháu ông Giacóp nữa, lại thấy con cháu người một lâu một nhiều quá, sợ sau chiếm nước mình, mới toan mưu làm hại cho chết đi bớt. Vậy vua dạy bắt dân Isarae, làm xâu nặng nề, gánh gạch, xây thành đắp lũy, lại dạy các mụ bà khi đi làm mụ trong dân Isarae, thì phải bóp mũi con trai đi hết. Mà mụ bà dầu ngoại không nỡ vưng lịnh độc ác dường ấy. Vua lại dạy, hễ con trai dân Isarae mới sinh ra, thì phải bắt mà thả trôi sông hết.

4° — Thuở ấy có một đờn bà Isarae sinh đặng một con trai tốt lành, thương tiếc, thì giấu đặng ba tháng, mà tính giấu lâu nữa không nhẹm, mới đan một cái nôi, trét dầu, rồi thả trôi sông, cùng cho con gái đi theo nom coi việc sẽ ra thế nào. Tình cờ có bà công chúa đi tắm nghe khóc, động lòng thương vớt lên, thấy tướng mạo tốt lành, dốc lòng nuôi làm con, đặt tên là Môisen, nghĩa là khỏi chết trôi. Khi ấy người chị thấy vậy, chạy lại, thưa xin bà công chúa để mình lãnh lo kiếm vú nuôi, sau khôn lớn đem dâng lại. Khi ông Môisen khôn lớn, thì vú nuôi là mẹ người đem dâng cho bà công chúa. — Nhưng mà khi ông Môisen thành nhơn, bèn bỏ đền đài vua Pharao, đi ở nước Madian làm nghề chăn chiên đặng bốn mươi năm, rồi Đức Chúa Trời hiện đến bảo người phải trở về nước Êgýptô, ra trước mặt vua Pharao, xin vua thả dân Isarae trở về đất Canaan. Vua không chịu, thì Đức Chúa Trời dạy người làm phép lạ mà phạt nước Êgýptô mười sự dữ, phần phạt thứ mười là phạt các con đầu lòng nước Êgýptô phải chết, nên vua mới sợ hãi mà cho dân Isarae trở về đất Canaan. Bằng về dân Giudêu thì khỏi chết con đầu lòng, nhờ máu con chiên Phanxica trây hình chữ thập trên mày cửa.

Vậy ông Môisen dạy nam phụ lão ấu dân Isarae phải lên đàng trở về đất Đức Chúa Trời hứa, hết thảy là sáu mươi muôn người tráng lực, còn phụ nữ lão ấu thì kể chẳng xiết. Khi ông Môisen đem dân Isarae gần ra khỏi nước Égýptô tới bờ Biển đỏ, vua Pharao tiếc mất bấy nhiêu muôn dân, liền truyền tướng binh xe ngựa đi cùng mình, theo bắt lại gần kịp. Bấy giờ ông Môisen cầu nguyện, lấy gậy chỉ dòng nước, tức thì biển rẽ ra làm hai, dựng lên hai bên như núi, thành đàng rộng lớn khô ráo cho dân Isarae kéo qua. Vua Pharao cùng quan binh xe ngựa cũng đuổi theo đàng biển ấy. Song khi cả và dân Isarae lên bờ hết, thì Đức Chúa Trời liền dạy ông Môisen giơ gậy trên biển, tức thì nước liền nhíp lại, vua quan binh ngựa nước Égýptô đều chết tận tuyệt, chẳng sót lại người nào sốt.

Dân Isarae qua khỏi biển đỏ, đi lâu ngày hết lương, ông Môisen cầu xin cùng Đức Chúa Trời, thì Chúa cho Manna bởi trời sa xuống, trong bốn mươi năm hồi còn ở trên rừng, mà nuôi nó. Lại khi đến chỗ kia thiếu nước uống, Đức Chúa Trời dạy ông Môisen lấy gậy gõ trên hòn đá, tức thì có mạch nước ngọt chảy ra cho dân uống, cùng chảy theo nó mọi nơi trên rừng.

Từ khi dân Isarae ra khỏi nước Égýptô đặng năm mươi ngày, khi đến núi Xina, thì Đức Chúa Trời ban truyền thơ giáo ra bề ngoài, cùng dạy ông Môisen chép vào hai bia đá, cho người ta dễ giữ đạo tánh giáo và đạo tổ phụ truyền, vì chưng mười điều răn Đức Chúa Trời đã truyền, thì có ý cắt nghĩa luật tự nhiên là tánh giáo cho rõ hơn mà thôi.

Dân Isarae đã đi trên rừng cát đủ bốn mươi năm, mới tới gần đất Chúa hứa; Chúa dạy ông Moisen phong chức cho ông Gioduệ làm đại tướng thay vì người, mà đem dân về cho đến đất Đức Chúa Trời hứa, rồi người lên núi Nêbô mà sinh thì ở đó, sống đặng một trăm hai mươi tuổi.

Đức Chúa Trời cho ông Gioduệ làm phép lạ, mà đem dân Isarae qua khỏi sông Giudong, và trong sáu năm người đánh giặc, có ba mươi mốt vua hàng đầu; lại khi quân phân điền thổ cho mười hai dòng dân Isarae đoạn, người sinh thì; rồi có các tướng nối nhau mà trị nước Isarae, cho đến khi nó cầu phong vương.

5° — Đức Chúa Trời dạy tiên tri Samue phong ông Saolê làm vua đầu bịn, song vua nầy chẳng hay vâng lịnh Chúa, nên Chúa bỏ mà chọn ông Davít là người về dòng ông Giuda, vì người hay vâng lịnh Chúa, lại mạnh mẽ gan dạ, đã giết thằng Goliát, đến sau làm vua cai trị dân Isarae đặng bốn mươi năm, sống đến bảy mươi tuổi mới qua đời. Vua nầy cũng phạm vài ba tội, song người ăn năn trở lại cho kíp, và đặt nhiều bài ca vịnh rất hay, rày Hội thánh còn dùng mà đọc kinh hát kinh. Nhứt là vua ấy nói tiên tri về sự ngày sau Chúa Cứu thế sẽ sinh bởi dòng dõi mình.

Vua Davít đã truyền ngôi cho con là Salomong. Vua nầy có tiếng khôn ngoan và giàu có, các vua đời trước và đời sau không ai bằng; người đã cất một đền thờ tại thành Giêrusalem trọng vọng vô hồi. Nhưng mà sau đã bỏ Đức Chúa Trời mà thờ bụt thần; không biết rõ, hồi chết có ăn năn trở lại chăng.

Khi vua Salomong băng đoạn, thái tử là Roboam tức vị, mà không nghe lời lão thần can gián, nên mười dòng Isarae đã bỏ vua ấy, mà chọn ông Giêroboam lên làm vua, còn hai dòng phục vua Roboam mà thôi, là dòng ông Giuda và ông Bendaminh.

6° — Từ khi đã chia ra làm hai nước, có nhiều vua kế vị trong hai nước ấy, kẻ giữ nghĩa cùng Đức Chúa Trời thì ít, kẻ thờ lạy bụt thần thì nhiều, cho nên Đức Chúa Trời để cho vua Navôcô, là vua ngoại tại xứ Babilon lấy nước Giudêu, bắt dân đem sang qua thành Babilon làm tôi tá khổ sở. Khỏi bảy mươi năm dân ấy mới khỏi làm tôi, trở về nước mình, lập lại thành Giêrusalem cùng đền thánh. Từ ấy sắp về sau dân Giudêu nhiều kẻ giữ đạo chín chắn hơn, và thà chết chẳng tà bỏ đạo ông Môisen, cho đến khi hoàng đế nước Rôma, tên là Xêdarê kiêm trị các nước thế gian, đặt ông Erode là người ngoại quốc làm vua chư hầu trị nước Giudêu. Bởi đó đã đến kỳ Đức Chúa Trời ban Thân giáo, là sai Con một mình là Đức Chúa Giêsu xuống thế làm người, cứu chuộc loài người ta; từ tạo thiên lập địa cho đến khi ấy kể đặng bốn ngàn năm.

7° — Nhưng mà trước khi Đức Chúa Trời sai Con một mình xuống thế, thì Chúa năng sai nhiều đấng tiên tri đến cùng dân Giudêu, cho đặng nhắc nhở nó gìn giữ luật Chúa, an ủi nó cùng quở trách tội lỗi nó sa phạm, và nhứt là bảo tin lành về Đấng Cứu thế hòng đến, hoặc chỉ trước lâu đời chừng nào Chúa đến, và nói gốc tích Người bởi dòng ông Giuda mà ra, cho nên Người thật là con vua Davít, lại chỉ Người sẽ sinh xuống trong thành Bêlem bởi rất thánh Nữ trọn đời đồng trinh, sau Người sẽ chịu nạn chịu chết vì tội loài người ta, rồi sẽ sống lại. Cũng nói, chẳng những Chúa sẽ gọi một mình dân Giudêu thờ phượng Chúa mà thôi, song cũng gọi các dân thiên hạ vào trong Hội thánh, là hội Chúa Cứu thế sẽ lập, cho người ta đặng nhờ phần rỗi cho đến tận thế.

Những đấng tiên tri có danh hết thảy là 16 ông: bốn ông nầy, là Isaia, Giêrêmia, Êdêkiêlê và Đanie thì gọi là Đại Tiên tri, vì chép sách vở nhiều; còn 12 ông khác thì gọi là Tiểu tiên tri, vì chép sách vở không có bao nhiêu. Nhưng vậy có nhiều đấng tiên tri khác, như ông Êlia và Êlidêu cũng có danh tiếng, song không có chép sách vở đề truyền, chỉ lấy lời nói mà giảng dạy thiên hạ mà thôi.

Ấy vậy Đức Chúa Trời dạy nhiều đấng tiên tri báo tin trước về Chúa Cứu thế như vậy, để cho đặng chừng nào Chúa Cứu thế giáng sinh, người ta nhìn biết Người cho dễ hơn, mà vâng nghe lời Người giảng dạy.

Sau hết từ ông Adong là tổ tông loài người ta đã phạm tội, cho đến ngày Chúa định sai Đấng Cứu thế, mà đền tội cho cả và thiên hạ, ước chừng đặng bốn ngàn năm, thì Đức Chúa Giêsu Kirixitô là Con Đức Chúa Trời đã sinh ra tại thành Belem, bởi rất thánh Nữ Đồng trinh, tên trọng là Maria về dòng dõi vua thành Davit.

 


Nhận xét